Đề Xuất 2/2023 # Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học (Phần 1) # Top 10 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học (Phần 1) # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học (Phần 1) mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đây là bản dịch của một bài chỉ dẫn cách viết một bài báo khoa học mà tôi viết cũng đã trên 15 năm. Bản gốc viết bằng tiếng Anh cho nghiên cứu y khoa. Nay tôi dịch sang tiếng Việt và có vài chỉnh sửa. Điều khá vui là khi dịch lại tôi mới phát hiện có vài sai sót nhỏ trong bản cũ! Thế mới biết phải đọc đi đọc lại thì mới hoàn chỉnh được. Vì bài viết khá dài và hạn chế thì giờ, nên tôi chỉ dịch từng phần, và sẽ post lên để các bạn nào quan tâm tham khảo. Cứ coi như là tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm với các bạn, một hình thức người đi trước mách mẹo cho người đi sau, chứ chẳng phải là giảng bài hay lên lớp gì ở đây. Tôi hi vọng các bạn sẽ rút ra vài kinh nghiệm. NVT

Mục tiêu số 1 của việc viết bài báo khoa học là truyền đạt thông tin về một vấn đề khoa học đến các đồng nghiệp, và tường trình những phương pháp hay cách tiếp cận để giải quyết vấn đề . Các tập san y sinh học là phương tiện để các nhà khoa học chuyển tải thông tin. Thông tin thường được trình bày dưới dạng một bài báo khoa học, và bài báo được viết theo một cấu trúc đặc thù mà cộng đồng khoa học phải tuân theo. Do đó, để thành công trong khoa học, nhà khoa học phải nắm được kĩ năng viết bài báo khoa học. Tôi soạn bài này trước hết là đưa một số lời khuyên về cách thức viết một bài báo khoa học, và sau đó là một cách chia sẻ một số kinh nghiệm viết lách trong khoa học. Tôi ở vào vị thế may mắn là vì tôi biết tiếng Việt và tiếng Anh, và cũng phục vụ trong các ban biên tập các tập san y khoa quốc tế, nên có thể chia sẻ cùng các bạn những kinh nghiệm mà có lẽ người nước ngoài không thể chia sẻ. Bài này được viết cho nghiên cứu sinh y khoa và sinh học, nhưng tôi nghĩ bạn đọc các ngành khoa học thực nghiệm khác cũng có thể rút ra vài kinh nghiệm.

Tựa đề (title) bài báo

Tựa đề bài báo được viết trên trang đầu của một bài báo, thường ở vị trí trung tâm. Không nên gạch đích hay viết nghiêng tựa đề. Phía dưới tựa đề bài báo là tên tác giả và nơi làm việc của từng tác giả.

Chúng ta muốn tựa đề bài báo phải “bắt mắt” người đọc, cho nên cần phải đầu tư một chút hời gian vào việc chọn chữ và chiến lược chọn tên cho bài báo. Tựa đề không nên quá ngắn, nhưng cũng không nên quá dài, mà phải nói lên được nội dung chính của nghiên cứu. Nếu tựa đề không nói lên được nội dung bài báo, độc giả sẽ không chú ý đến công trình nghiên cứu, và chúng ta mất người đọc. Để có một tựa đề sáng tạo, tôi đề nghị các bạn nên tuân thủ hay ít ra là xem xét đến một số khía cạnh sau đây:

Không bao giờ sử dụng viết tắt. Nên nhớ rằng nhiều người ngoài lĩnh vực chuyên môn đọc bài báo của bạn, và viết tắt có thể làm cho họ khó chịu vì họ không quen hay không biết đến những chữ viết tắt chuyên ngành.

Không nên đặt tựa đề theo kiểu nghịch lí hay tựa đề mơ hồ.Tựađề nghịch ló và mơ hồ rất nguy hiểm, vì nó biểu hiện nghiên cứu của bạn chẳng giải quyết được vấn đề gì, hay chẳng có câu trả lời gì, và do đó người đọc có thể nghĩ sẽ rất phí thì giờ để đọc bài báo.

Không nên đặt tựa đề dài. Tựa đề bài báo không nên dài hơn 20 từ. Tựa đề dài có thể làm cho người đọc mất chú ý. Tựa đề như “Genetic determination of bone mineral density in adult women: a reevaluation of the twin model and the potential importance of gene -environmental interaction on heritability estimates” chẳng những dài dòng một cách không cần thiết, mà những chữ như “potential”, “estimates”, “adult” cũng không thiết yếu. Tác giả có thể viết lại như “Roles of gene-environmental interaction in the estimation of heritability of bone mass: a reevaluation of the twin model.”

Tựa đề bài báo nên có yếu tố mới. Yếu tố mới lúc nào cũng có hiệu quả thu hút sự chú ý của người đọc. Chẳng hạn như tựa đề “A new family of mathematical models for describing the human growth” (chú ý chữ “new”, tức “mới”) chắc được nhiều người chú ý hơn là tựa đề “A family of mathematical models for describing the human growth.”

Không nên đặt tựa đề như là một phát biểu. Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy những tựa đề như “Smoking causes cancer”, “Oestrogen is associated with bone loss, Physical activity is not a predictor of mortality,” v.v…. Những tựa đề này làm cho người đọc … bực mình. Trong khoa học, không có một cái gì xác định và chắc chắn. Chúng ta không thể nào chứng minh một giả thuyết. Do đó, dùng chữ “cause”, hay chia động từ hiện tại như “is” (tức là nói đến chân lí) là một cách viết thể hiện sự thiếu hiểu biết khoa học của tác giả. Nhà khoa học là người đi tìm chân lí, chứ không phải đã tìm được chân lí.

Vì tựa đề bài báo được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu, nên khi đặt tựa đề cần phải để ý đến những từ khóa (keywords).Phần lớn những cơ sở dữ liệu dùng tiêu đề và tựa đề làm thuật ngữ tìm kiếm. Chẳng hạn như bài báo với tựa đề “The effects exercise on free fatty acids in the blood” sẽ được phân loại dưới thuật ngữ “fatty acids”, “metabolism of fatty acids”, “exercise”, và “blood”. Nhưng nếu bái báo với tựa đề “The effects exercise on free fatty acids in the blood: a study in rats using chromotographic techniques,” thì sẽ được phân qua dưới thuật ngữ “composition of fatty acids”, “chromotographic technique”, “fatty acids in rats” và do đó sẽ thu hút nhiều độc giả hôn.

Chú ý rằng nhóm tác giả đặt tựa đề nói lên được ba khía cạnh chính của nghiên cứu, đó là tiểu đường (diabetes), huyết áp, và tỉ số vòng eo-mông. Chú ý thêm rằng, trước chữ diabetes, nhóm tác giả thêm tính từ “undiagnosed” để gây chú ý cho người đọc, mà cũng phản ảnh một thực trạng ở hầu hết các quần thể bệnh nhân.

Tựa đề bài báo này đã qua 4 lần chỉnh sửa. Ba lần đầu là do chính nhóm tác giả chỉnh sửa. Đến khi bản thảo được bình duyệt, một chuyên gia đề nghị sửa lại một lần nữa. Đôi khi tác giả cần phải đầu tư khá nhiều thì giờ cho một tựa đề bài báo.

Phần 1. Nội dung một bài báo khoa học

Một bài báo khoa học thường có những phần sau đây: dẫn nhập (introduction), phương pháp(methods), kết quả (results), và bàn luận (discussion). Cấu trúc này được gọi tắt là cấu trúc IMRAD. Tuy nhiên, mỗi bài báo khoa học lúc nào cũng có phần tóm lược (abstract) để — như tên gọi — tóm tắt các khía cạnh chính của một công trình nghiên cứu hay một bài báo.

I. Tóm lược (Abstract)

Có 2 loại tóm lược: không có tiêu đề và có tiêu đề. Loại tóm lược không có tiêu đề là một đoạn văn duy nhất tóm tắt công trình nghiên cứu. Loại tóm lược có tiêu đề — như tên gọi – là bao gồm nhiều đoạn văn theo các tiêu đề sau đây: Background, Aims, Methods, Outcome Measurements, Results, và Conclusions. Tuy nhiên, dù là có hay không có tiêu đề, thì một bản tóm lược phải chuyển tải cho được những thông tin quan trọng sau đây:

Câu hỏi và mục đích của nghiên cứu. Phần này phải mô tả bằng 2 câu văn. Câu văn thứ nhất mô tả vấn đề mà tác giả quan tâm là gì, và tình trạng tri thức hiện tại ra sao. Câu văn thứ hai mô tả mục đích nghiên cứu một cách gọn nhưng phải rõ ràng.

Phương pháp nghiên cứu. Cần phải mô tả công trình nghiên cứu được thiết kế theo mô hình gì, đối tượng tham gia nghiên cứu đến từ đâu và đặc điểm của đối tượng, phương pháp đo lường, yếu tố nguy cơ (risk factors), chỉ tiêu lâm sàng (clinical outcome). Phần này có thể viết trong vòng 4-5 câu văn.

Kết quả. Trong phần này, tác giả trình bày những kết quả chính của nghiên cứu, kể cả những số liệu có thể lấy làm điểm thiết yếu của nghiên cứu. Nên nhớ rằng kết quả này phải được trình bày sao cho trả lời câu hỏi nghiên cứu đặt ra từ câu văn đầu tiên.

Kết luận. Một hoặc 2 câu văn kết luận và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu. Có thể nói phần lớn độc giả chú tâm vào câu văn này trước khi học đọc các phần khác, cho nên tác giả cần phải chọn câu chữ sao cho “thuyết phục” và thu hút được sự chú ý của độc giả trong 2 câu văn quan trọng này.

Nếu tựa đề bài báo phát biểu về nội dung của công trình nghiên cứu, thì bảng tóm lược cho phép bạn mô tả chi tiết hơn nội dung của công trình nghiên cứu. Độ dài của bảng tóm lược thường chỉ 200 đến 300 từ (tùy theo qui định của tập san). Bảng tóm lược giúp người đọc nên đọc tiếp bài báo hay bỏ qua bài báo. Do đó, tác giả cần phải cung cấp thông tin một cách ngắn gọn, nhưng có dữ liệu (chứ không phải chỉ hứa suông) và đi thẳng vào vấn đề (chứ không phải viết lòng vòng). Thông thường bảng tóm lược được viết sau khi đã hoàn tất bài báo. Kinh nghiệm của tôi trong những năm đầu nghiên cứu sinh cho thấy có khi tốn đến cả ngày chỉ để viết một abstract với 200 chữ. Tôi xem abstract như một bài thơ, tức là tác giả phải chọn từ ngữ rất cẩn thận để phản ảnh một cô đọng những điều mình muốn chuyển tải đến cộng đồng khoa học.

Background

The relative contribution of lean and fat to the determination of bone mineral density (BMD) in postmenopausal women is a contentious issue. The present study was undertaken to test the hypothesis that lean mass is a better determinant of BMD than fat mass.

Methods

This cross-sectional study involved 210 postmenopausal women of Vietnamese background, aged between 50 and 85 years, who were randomly sampled from various districts in Ho Chi Minh City (Vietnam). Whole body scans, femoral neck, and lumbar spine BMD were measured by DXA (QDR 4500, Hologic Inc., Waltham, MA). Lean mass (LM) and fat mass (FM) were derived from the whole body scan. Furthermore, lean mass index (LMi) and fat mass index (FMi) were calculated as ratio of LM or FM to body height in metre squared (m 2).

Results

In multiple linear regression analysis, both LM and FM were independent and significant predictors of BMD at the spine and femoral neck. Age, lean mass and fat mass collectively explained 33% variance of lumbar spine and 38% variance of femoral neck BMD. Replacing LM and FM by LMi and LMi did not alter the result. In both analyses, the influence of LM or LMi was greater than FM and FMi. Simulation analysis suggested that a study with 1000 individuals has a 78% chance of finding the significant effects of both LM and FM, and a 22% chance of finding LM alone significant, and zero chance of finding the effect of fat mass alone.

Conclusions

These data suggest that both lean mass and fat mass are important determinants of BMD. For a given body size — measured either by lean mass or height — women with greater fat mass have greater BMD.

N.V.T.

Xem tiếp phần 2 bàn về dẫn nhập

Từ khóa: cách viết bài báo

Bài mới hơn cùng mục – Kỹ năng báo cáoBài cũ hơn cùng mục – Kỹ năng báo cáo Tags: cách viết bài báo

Kinh Nghiệm Và Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học (Phần 1)

Mục tiêu số 1 của việc viết bài báo khoa học là truyền đạt thông tin về một vấn đề khoa học đến các đồng nghiệp, và tường trình những phương pháp hay cách tiếp cận để giải quyết vấn đề . Các tập san y sinh học là phương tiện để các nhà khoa học chuyển tải thông tin. Thông tin thường được trình bày dưới dạng một bài báo khoa học, và bài báo được viết theo một cấu trúc đặc thù mà cộng đồng khoa học phải tuân theo. Do đó, để thành công trong khoa học, nhà khoa học phải nắm được kĩ năng viết bài báo khoa học.

Tựa đề (title) bài báo

Tựa đề bài báo được viết trên trang đầu của một bài báo, thường ở vị trí trung tâm. Không nên gạch đích hay viết nghiêng tựa đề. Phía dưới tựa đề bài báo là tên tác giả và nơi làm việc của từng tác giả.

Chúng ta muốn tựa đề bài báo phải “bắt mắt” người đọc, cho nên cần phải đầu tư một chút hời gian vào việc chọn chữ và chiến lược chọn tên cho bài báo. Tựa đề không nên quá ngắn, nhưng cũng không nên quá dài, mà phải nói lên được nội dung chính của nghiên cứu. Nếu tựa đề không nói lên được nội dung bài báo, độc giả sẽ không chú ý đến công trình nghiên cứu, và chúng ta mất người đọc. Để có một tựa đề sáng tạo, tôi đề nghị các bạn nên tuân thủ hay ít ra là xem xét đến một số khía cạnh sau đây:

Không bao giờ sử dụng viết tắt. Nên nhớ rằng nhiều người ngoài lĩnh vực chuyên môn đọc bài báo của bạn, và viết tắt có thể làm cho họ khó chịu vì họ không quen hay không biết đến những chữ viết tắt chuyên ngành.

Không nên đặt tựa đề theo kiểu nghịch lí hay tựa đề mơ hồ.Tựađề nghịch ló và mơ hồ rất nguy hiểm, vì nó biểu hiện nghiên cứu của bạn chẳng giải quyết được vấn đề gì, hay chẳng có câu trả lời gì, và do đó người đọc có thể nghĩ sẽ rất phí thì giờ để đọc bài báo.

Không nên đặt tựa đề dài. Tựa đề bài báo không nên dài hơn 20 từ. Tựa đề dài có thể làm cho người đọc mất chú ý. Tựa đề như “Genetic determination of bone mineral density in adult women: a reevaluation of the twin model and the potential importance of gene -environmental interaction on heritability estimates” chẳng những dài dòng một cách không cần thiết, mà những chữ như “potential”, “estimates”, “adult” cũng không thiết yếu. Tác giả có thể viết lại như “Roles of gene-environmental interaction in the estimation of heritability of bone mass: a reevaluation of the twin model.”

Tựa đề bài báo nên có yếu tố mới. Yếu tố mới lúc nào cũng có hiệu quả thu hút sự chú ý của người đọc. Chẳng hạn như tựa đề “A new family of mathematical models for describing the human growth” (chú ý chữ “new”, tức “mới”) chắc được nhiều người chú ý hơn là tựa đề “A family of mathematical models for describing the human growth.”

Không nên đặt tựa đề như là một phát biểu. Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy những tựa đề như “Smoking causes cancer”, “Oestrogen is associated with bone loss, Physical activity is not a predictor of mortality,” v.v…. Những tựa đề này làm cho người đọc … bực mình. Trong khoa học, không có một cái gì xác định và chắc chắn. Chúng ta không thể nào chứng minh một giả thuyết. Do đó, dùng chữ “cause”, hay chia động từ hiện tại như “is” (tức là nói đến chân lí) là một cách viết thể hiện sự thiếu hiểu biết khoa học của tác giả. Nhà khoa học là người đi tìm chân lí, chứ không phải đã tìm được chân lí.

Vì tựa đề bài báo được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu, nên khi đặt tựa đề cần phải để ý đến những từ khóa (keywords).Phần lớn những cơ sở dữ liệu dùng tiêu đề và tựa đề làm thuật ngữ tìm kiếm. Chẳng hạn như bài báo với tựa đề “The effects exercise on free fatty acids in the blood” sẽ được phân loại dưới thuật ngữ “fatty acids”, “metabolism of fatty acids”, “exercise”, và “blood”. Nhưng nếu bái báo với tựa đề “The effects exercise on free fatty acids in the blood: a study in rats using chromotographic techniques,” thì sẽ được phân qua dưới thuật ngữ “composition of fatty acids”, “chromotographic technique”, “fatty acids in rats” và do đó sẽ thu hút nhiều độc giả hôn.

Chú ý rằng nhóm tác giả đặt tựa đề nói lên được ba khía cạnh chính của nghiên cứu, đó là tiểu đường (diabetes), huyết áp, và tỉ số vòng eo-mông. Chú ý thêm rằng, trước chữ diabetes, nhóm tác giả thêm tính từ “undiagnosed” để gây chú ý cho người đọc, mà cũng phản ảnh một thực trạng ở hầu hết các quần thể bệnh nhân.

Tựa đề bài báo này đã qua 4 lần chỉnh sửa. Ba lần đầu là do chính nhóm tác giả chỉnh sửa. Đến khi bản thảo được bình duyệt, một chuyên gia đề nghị sửa lại một lần nữa. Đôi khi tác giả cần phải đầu tư khá nhiều thì giờ cho một tựa đề bài báo.

Phần 1. Nội dung một bài báo khoa học

Một bài báo khoa học thường có những phần sau đây: dẫn nhập (introduction), phương pháp(methods), kết quả (results), và bàn luận (discussion). Cấu trúc này được gọi tắt là cấu trúc IMRAD. Tuy nhiên, mỗi bài báo khoa học lúc nào cũng có phần tóm lược (abstract) để – như tên gọi – tóm tắt các khía cạnh chính của một công trình nghiên cứu hay một bài báo.

I. Tóm lược (Abstract)

Có 2 loại tóm lược: không có tiêu đề và có tiêu đề. Loại tóm lược không có tiêu đề là một đoạn văn duy nhất tóm tắt công trình nghiên cứu. Loại tóm lược có tiêu đề – như tên gọi – là bao gồm nhiều đoạn văn theo các tiêu đề sau đây: Background, Aims, Methods, Outcome Measurements, Results, và Conclusions. Tuy nhiên, dù là có hay không có tiêu đề, thì một bản tóm lược phải chuyển tải cho được những thông tin quan trọng sau đây:

Câu hỏi và mục đích của nghiên cứu. Phần này phải mô tả bằng 2 câu văn. Câu văn thứ nhất mô tả vấn đề mà tác giả quan tâm là gì, và tình trạng tri thức hiện tại ra sao. Câu văn thứ hai mô tả mục đích nghiên cứu một cách gọn nhưng phải rõ ràng.

Phương pháp nghiên cứu. Cần phải mô tả công trình nghiên cứu được thiết kế theo mô hình gì, đối tượng tham gia nghiên cứu đến từ đâu và đặc điểm của đối tượng, phương pháp đo lường, yếu tố nguy cơ (risk factors), chỉ tiêu lâm sàng (clinical outcome). Phần này có thể viết trong vòng 4-5 câu văn.

Kết quả. Trong phần này, tác giả trình bày những kết quả chính của nghiên cứu, kể cả những số liệu có thể lấy làm điểm thiết yếu của nghiên cứu. Nên nhớ rằng kết quả này phải được trình bày sao cho trả lời câu hỏi nghiên cứu đặt ra từ câu văn đầu tiên.

Kết luận. Một hoặc 2 câu văn kết luận và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu. Có thể nói phần lớn độc giả chú tâm vào câu văn này trước khi học đọc các phần khác, cho nên tác giả cần phải chọn câu chữ sao cho “thuyết phục” và thu hút được sự chú ý của độc giả trong 2 câu văn quan trọng này.

Nếu tựa đề bài báo phát biểu về nội dung của công trình nghiên cứu, thì bảng tóm lược cho phép bạn mô tả chi tiết hơn nội dung của công trình nghiên cứu. Độ dài của bảng tóm lược thường chỉ 200 đến 300 từ (tùy theo qui định của tập san). Bảng tóm lược giúp người đọc nên đọc tiếp bài báo hay bỏ qua bài báo. Do đó, tác giả cần phải cung cấp thông tin một cách ngắn gọn, nhưng có dữ liệu (chứ không phải chỉ hứa suông) và đi thẳng vào vấn đề (chứ không phải viết lòng vòng). Thông thường bảng tóm lược được viết sau khi đã hoàn tất bài báo. Kinh nghiệm của tôi trong những năm đầu nghiên cứu sinh cho thấy có khi tốn đến cả ngày chỉ để viết một abstract với 200 chữ. Tôi xem abstract như một bài thơ, tức là tác giả phải chọn từ ngữ rất cẩn thận để phản ảnh một cô đọng những điều mình muốn chuyển tải đến cộng đồng khoa học.

BackgroundThe relative contribution of lean and fat to the determination of bone mineral density (BMD) in postmenopausal women is a contentious issue. The present study was undertaken to test the hypothesis that lean mass is a better determinant of BMD than fat mass. Methods

This cross-sectional study involved 210 postmenopausal women of Vietnamese background, aged between 50 and 85 years, who were randomly sampled from various districts in Ho Chi Minh City (Vietnam). Whole body scans, femoral neck, and lumbar spine BMD were measured by DXA (QDR 4500, Hologic Inc., Waltham, MA). Lean mass (LM) and fat mass (FM) were derived from the whole body scan. Furthermore, lean mass index (LMi) and fat mass index (FMi) were calculated as ratio of LM or FM to body height in metre squared (m 2).

Results

In multiple linear regression analysis, both LM and FM were independent and significant predictors of BMD at the spine and femoral neck. Age, lean mass and fat mass collectively explained 33% variance of lumbar spine and 38% variance of femoral neck BMD. Replacing LM and FM by LMi and LMi did not alter the result. In both analyses, the influence of LM or LMi was greater than FM and FMi. Simulation analysis suggested that a study with 1000 individuals has a 78% chance of finding the significant effects of both LM and FM, and a 22% chance of finding LM alone significant, and zero chance of finding the effect of fat mass alone.

Conclusions

These data suggest that both lean mass and fat mass are important determinants of BMD. For a given body size – measured either by lean mass or height – women with greater fat mass have greater BMD.

Cách Viết Phần Phương Pháp Nghiên Cứu Một Bài Báo Khoa Học

Có lẽ phần quan trọng nhất của một bài báo khoa học là phần phương pháp. Kinh nghiệm làm biên tập của tôi cho thấy tập san tôi tham gia phụ trách trong ban biên tập (tập san Journal of Bone and Mineral Research) từ chối khoảng 75% những bài báo gửi đến; trong số bài báo bị từ chối, gần 70% là do khiếm khuyết trong phần phương pháp. Tôi đã thấy và đọc rất nhiều bài báo gửi đến cho tập san mà kết quả rất thú vị, nhưng đành phải từ chối vì phần phương pháp được mô tả quá sơ sài, hay mô tả một cách xem thường người đọc. Có thể tác giả không có ý xem thường ai, nhưng vì cách viết và trình bày chưa đạt chuẩn mực nên gây ra ấn tượng đó. Trong phần 3 này, tôi sẽ chỉ các bạn viết phần phương pháp một cách chuẩn mực và chắc chắn sẽ không bị ai phê bình là … viết dở. 🙂

Phần phương pháp nghiên cứu có lẽ là phần quan trọng nhất trong một bài báo khoa học. Khoảng 70% bài báo khoa học bị từ chối chỉ vì phương pháp nghiên cứu không thích hợp hay sai lầm. Nhiều người đọc có thói quen đọc phương pháp trước, rồi sau đó họ đọc các phần khác. Nếu họ thấy phương pháp nghiên cứu có chất lượng, họ sẽ đọc tiếp; nếu không, họ sẽ bỏ qua một bên! Do đó, đây là phần mà tác giả cần phải đầu tư nhiều thì giờ để viết cho “đạt”.

Trong phần phương pháp, tác giả phải trả lời cho được câu hỏi: “tác giả đã làm gì” (What did you do?) Để trả lời câu hỏi này, tác giả phải cung cấp thông tin về thiết kế nghiên cứu, bệnh nhân (hay đối tượng nghiên cứu), phương pháp đo lường, độ tin cậy và chính xác của đo lường, phương pháp phân tích dữ liệu. Do đó, phần phương pháp nghiên cứu có thể có những tiêu đề nhỏ như sau:

Thiết kế nghiên cứu (study design). Phát biểu ngằn gọn về mô hình nghiên cứu. Đây là câu văn đơn giản, nhưng nói lên giá trị khoa học của công trình nghiên cứu. Ví dụ: “The study was designed as a cross-sectional investigation, in which 210 women aged between 50 and 85 were randomly sampled by the cluster sampling scheme.”

Đối tượng tham gia (Participants). Thông tin về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu đóng vai trò quan trọng để người đọc có thể đánh giá khả năng khái quát hóa của công trình nghiên cứu. Khi mô tả đặc điểm đối tượng nghiên cứu, tiêu chuẩn tuyển chọn và tiêu chuẩn loại. Đôi khi tác giả cần phải các biến số quan trọng như độ tuổi, giới tính, sắc tộc, trình độ học vấn, tình trạng sức khỏe. Ví dụ: “All women requesting an IUCD (intrauterine contraceptive device) at the Family Welfare Clinic, Kenyatta National Hospital, who were menstruating regularly and who were between 20 and 44 years of age, were candidates for inclusion in the study. They were not admitted to the study if any of the following criteria were present: (1) a history of ectopic pregnancy, (2) pregnancy within the past 42 days, (3) leiomyomata of the uterus, (4) active PID (pelvic inflammatory disease), (5) a cervical or endometrial malignancy, (6) a known hypersensitivity to tetracyclines, (7) use of any antibiotics within the past 14 days or long-acting injectable penicillin, (8) an impaired response to infection, or (9) residence outside the city of Nairobi, insufficient address for follow-up, or unwillingness to return for follow-up.”

Địa điểm và bối cảnh nghiên cứu (setting). Cần phải cung cấp thông tin về địa điểm mà công trình nghiên cứu được thực hiện, hay nơi mà dữ liệu được thu thập, bởi vì địa điểm có thể ảnh hưởng đến tính hợp lí ngoại tại của kết quả nghiên cứu. Chẳng hạn như khi chúng tôi làm nghiên cứu về vitamin D, chúng tôi phải cung cấp thông tin về thành phố mà mình thực hiện công trình nghiên cứu. Ví dụ: “The study was designed as a cross-sectional investigation, in which the setting was Ho Chi Minh City (formerly Saigon). The City is located at 10°45’N, 106°40’E in the southeastern region of Vietnam. The City is in the tropic and close to the sea; therefore it has a tropical climate, with an average humidity of 75%. There are only two distinct seasons: the rainy season, with an average rainfall of about 1,800 millimetres annually (about 150 rainy days per year), usually begins in May and ends in late November; the dry season lasts from December to April. The average temperature is 28°C (82°F), the highest temperature sometimes reaches 39°C (102°F) around noon in late April, while the lowest may fall below 16°C (61°F) in the early mornings of late December.”

Ví dụ: Patients with psoriatic arthritis were randomized to receive placebo or etanercept (Enbrel) at a dose of 25 mg twice weekly by subcutaneous administration for 12 weeks … Etanercept was supplied as a sterile, lyophilized powder in vials containing 25 mg etanercept, 40 mg mannitol, 10 mg sucrose, and 1-2 mg tromethamine per vial. Placebo was identically supplied and formulated except that it contained no etanercept. Each vial was reconstituted with 1 mL bacteriostatic water for injection.

Ngoài ra, tác giả phải mô tả cẩn thận kĩ thuật đo lường được sử dụng trong nghiên cứu, như tên của máy, model gì, software phiên bản nào, và nơi sản xuất. Cần phải mô tả điều kiện (nhiệt độ, ánh sáng) trong khi đo lường, cũng như các hệ số về độ tin cậy và độ chính xác của kĩ thuật đo lường.

Ví dụ: Blood pressure (diastolic phase 5) while patient was sitting and had rested for at least five minutes was measured by a trained nurse with a Copal UA-251 or a Takeda UA-751 electronic ausculatory blood pressure reading machine (Andrew Stephens, Brighouse, West Yorkshire) or with a Hawksley random zero sphygmomanometer (Hawksley, Lancing, Sussex) in patients with atrial fibrillation. The first reading was discarded and the mean of the next three consecutive readings with a coefficient of variation below 15% was used in the study, with additional readings if required.

Định nghĩa chỉ tiêu lâm sàng (measurements of endpoints). Một công trình nghiên cứu lâm sàng phải có một endpoint hay outcome, mà tôi tạm dịch là “chỉ tiêu lâm sàng”, là cái làm thước đo của một thuật can thiệp. Do đó, tác giả cẩn phải định nghĩa rõ ràng chỉ tiêu lâm sàng của công trình nghiên cứu là gì, và nhất là phương pháp đo lường (như vừa đề cập) ra sao. Thông thường, một nghiên cứu có 2 chỉ tiêu lâm sàng mà tiếng Anh gọi là “primary endpoint” (chỉ tiêu chính) và “secondary endpoint” (chỉ tiêu phụ).

Ví dụ: The primary endpoint with respect to efficacy in psoriasis was the proportion of patients achieving a 75% improvement in psoriasis activity from baseline to 12 weeks as measured by the PASI (psoriasis area and severity index). Additional analyses were done on the percentage change in PASI scores and improvements in target psoriasis lesions.

Cỡ mẫu (Sample Size). Cỡ mẫu là một yếu tố rất quan trọng trong một nghiên cứu lâm sàng. Thông thường, các nghiên cứu randomized controlled trial (RCT) phải có một câu văn mô tả cách tính cỡ mẫu. Không phải là công thức tính (như tôi thấy nhiều bài báo ở Việt Nam), mà là những giả định đằng sau cách tính. Điều này quan trọng, vì qua giả định, người đọc có thể đánh giá khả năng mà công trình nghiên cứu có thể giải quyết câu hỏi đặt ra trong phần dẫn nhập.

Ví dụ: We consider that the incidence of symptomatic deep venous thrombosis or pulmonary embolism or death would be 4% in the placebo group and 1.5% in the ardeparin sodium group. Based on 0.9 power to detect a significant difference (p 0.05, two-sided), 976 patients were required for each study group. To compensate for nonevaluable patients, we planned to enroll 1000 patients in each group.

Ngẫu nhiên hóa (Randomization). Trong các công trình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled trial hay RCT), bệnh nhân thường được phân nhóm một cách ngẫu nhiên. Có nhiều cách phân nhóm bằng máy tính và thuật toán, cho nên tác giả có trách nhiệm phải mô tả rõ phương pháp phân nhóm để người đọc có thế đánh giá chất lượng của nghiên cứu. Nếu cách phân nhóm có hiệu quả thì kết quả thường cho thấy các nhóm rất tương đương về các đặc tính lâm sàng. Một ví dụ về cách mô tả phương pháp phân nhóm có thể thấy trong đoạn văn sau đây: “Women had an equal probability of assignment to the groups. The randomization code was developed using a computer random number generator to select random permuted blocks. The block lengths were 4, 8, and 10 varied randomly.”

Mật hóa (còn gọi là Blinding). Trong các công trình RCT, có khi cả bác sĩ điều trị và bệnh nhân đều không biết bệnh nhân mình (hay mình) nằm trong nhóm nào của nghiên cứu. Đây là một biện pháp nhằm tăng tính khách quan khi đánh giá hiệu quả của can thiệp. Cũng như ngẫu nhiên hóa có thể thực hiện bằng nhiều thuật toán, cách mật hóa cũng có thể thực hiện bằng nhiều “thủ thuật”. Cách mô tả thủ thuật đó có thể tìm thấy trong đoạn văn sau đây:: “All study personnel and participants were blinded to treatment assignment for the duration of the study. Only the study statisticians and the data monitoring committee saw unblinded data but none had any contact with study participants.”

Phân tích dữ liệu (Data Analysis). Thiết kế và phân tích các nghiên cứu lâm sàng đều cần đến các phương pháp thống kê. Do đó, phần này tuy là phần cuối trong phần phương pháp của bài báo khoa học, nhưng nó đóng vai trò rất quan trọng. Tôi từng phục vụ trong ban biên tập và thấy rất nhiều bài báo và công trình nghiên cứu rất tốt nhưng vì phân tích sai nên đành phải từ chối. Con số bài báo bị từ chối vì phân tích sai có khi lên đến 50% (như với tập san JAMA chẳng hạn). Do đó, trong phần phân tích, tác giả phải phát biểu cho được biến phụ thuộc (hay endpoints hoặc outcome) là gì, biến độc lập (hay risk factors hoặc covariates) là gì, và định nghĩa rõ ràng các biến này được xử lí ra sao. Nếu số liệu đã qua hoán chuyển thì tác giả phải giải thích tại sao. Vì có nhiều phương pháp phân tích số liệu và kiểm định giả thuyết, nên tác giả còn phải giải thích tại sao đã chọn phương pháp A mà không là phương pháp B. Đôi khi tác giả cũng phải nói ra đã dùng software nào cho phân tích. (Nhớ đừng “khoe” software phân tích mà cơ quan hay cá nhân đã “tậu” một cách bất hợp pháp!)

Ví dụ về cách viết đoạn văn này như sau: “All data analysis was carried out according to a pre-established analysis plan. Proportions were compared by using Chi-squared tests with continuity correction or Fisher’s exact test when appropriate. Multivariate analyses were conducted with logistic regression. The durations of episodes and signs of disease were compared by using proportional hazards regression. Mean serum retinol concentrations were compared by t-test and analysis of covariance … Two-sided significance tests were used throughout. The analysis was performed with the SAS system (SAS Institute, Inc, Cary, NC, USA.”

Nói chung, phần Phương pháp thường dài gấp 2 hay 3 lần phần Dẫn nhập. Sẽ không có vấn đề gì nếu tác giả mô tả phần Phương pháp một cách chi tiết, vì nếu tập san thấy không cần thiết thì họ sẽ cắt bỏ hay đưa vào phần phụ chú (appendix). Nhưng sẽ là vấn đề nếu tác giả cố tình mô tả phần Phương pháp một cách mù mờ và vắn tắt, bởi vì người duyệt bài sẽ nghĩ tác giả hoặc là muốn dấu diếm vấn đề hoặc là thiếu thành thật! Xin nhắc lại rằng gần 70% bài báo khoa học bị từ chối là do phương pháp không đúng hay mô tả không đầy đủ. Vì thế, tác giả cần phải hết sức thận trọng trong phần mô tả Phương pháp nghiên cứu, làm sao nói cho được là “what did you do” (bạn đã làm gì trong nghiên cứu này).

Trong các phần kế tiếp, tôi sẽ chỉ cách viết phần kết quả và mô tả các dữ liệu. Thể theo yêu cầu của nhiều bạn đọc, tôi cũng sẽ cố gắng chỉ ra những chữ, câu văn, những đoạn văn quen thuộc trong cách viết một bài báo khoa học. Tôi nghĩ những chữ, câu văn và đoạn văn đặc thù này sẽ rất có ích cho các bạn đang muốn hay trong quá trình “phải có danh gì với núi sông” (tức là công bố cho được một vài bài báo khoa học để lưu danh cùng hậu thế.

GS. TS. NGUYỄN VĂN TUẤN – Chuyên gia nghiên cứu cao cấp của Ủy hội Nghiên cứu y khoa và y tế quốc gia Úc

Nguồn: Sinh vật rừng Việt Nam

Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học (Giới Thiệu)

Đây là bản dịch của một bài chỉ dẫn cách viết một bài báo khoa học mà tôi viết cũng đã trên 15 năm. Bản gốc viết bằng tiếng Anh cho nghiên cứu y khoa. Nay tôi dịch sang tiếng Việt và có vài chỉnh sửa. Điều khá vui là khi dịch lại tôi mới phát hiện có vài sai sót nhỏ trong bản cũ! Thế mới biết phải đọc đi đọc lại thì mới hoàn chỉnh được. Vì bài viết khá dài và hạn chế thì giờ, nên tôi chỉ dịch từng phần, và sẽ post lên để các bạn nào quan tâm tham khảo. Cứ coi như là tôi muốn chia sẻ kinh nghiệm với các bạn, một hình thức người đi trước mách mẹo cho người đi sau, chứ chẳng phải là giảng bài hay lên lớp gì ở đây. Tôi hi vọng các bạn sẽ rút ra vài kinh nghiệm. NVT

Mục tiêu số 1 của việc viết bài báo khoa học là truyền đạt thông tin về một vấn đề khoa học đến các đồng nghiệp, và tường trình những phương pháp hay cách tiếp cận để giải quyết vấn đề. Các tập san y sinh học là phương tiện để các nhà khoa học chuyển tải thông tin. Thông tin thường được trình bày dưới dạng một bài báo khoa học, và bài báo được viết theo một cấu trúc đặc thù mà cộng đồng khoa học phải tuân theo. Do đó, để thành công trong khoa học, nhà khoa học phải nắm được kĩ năng viết bài báo khoa học. Tôi soạn bài này trước hết là đưa một số lời khuyên về cách thức viết một bài báo khoa học, và sau đó là một cách chia sẻ một số kinh nghiệm viết lách trong khoa học. Tôi ở vào vị thế may mắn là vì tôi biết tiếng Việt và tiếng Anh, và cũng phục vụ trong các ban biên tập các tập san y khoa quốc tế, nên có thể chia sẻ cùng các bạn những kinh nghiệm mà có lẽ người nước ngoài không thể chia sẻ. Bài này được viết cho nghiên cứu sinh y khoa và sinh học, nhưng tôi nghĩ bạn đọc các ngành khoa học thực nghiệm khác cũng có thể rút ra vài kinh nghiệm.

Tựa đề bài báo được viết trên trang đầu của một bài báo, thường ở vị trí trung tâm. Không nên gạch đích hay viết nghiêng tựa đề. Phía dưới tựa đề bài báo là tên tác giả và nơi làm việc của từng tác giả.

Chúng ta muốn tựa đề bài báo phải “bắt mắt” người đọc, cho nên cần phải đầu tư một chút thời gian vào việc chọn chữ và chiến lược chọn tên cho bài báo. Tựa đề không nên quá ngắn, nhưng cũng không nên quá dài, mà phải nói lên được nội dung chính của nghiên cứu. Nếu tựa đề không nói lên được nội dung bài báo, độc giả sẽ không chú ý đến công trình nghiên cứu, và chúng ta mất người đọc. Để có một tựa đề sáng tạo, tôi đề nghị các bạn nên tuân thủ hay ít ra là xem xét đến một số khía cạnh sau đây:

Không bao giờ sử dụng viết tắt. Nên nhớ rằng nhiều người ngoài lĩnh vực chuyên môn đọc bài báo của bạn, và viết tắt có thể làm cho họ khó chịu vì họ không quen hay không biết đến những chữ viết tắt chuyên ngành.

Không nên đặt tựa đề theo kiểu nghịch lí hay tựa đề mơ hồ. Tựa đề nghịch ló và mơ hồ rất nguy hiểm, vì nó biểu hiện nghiên cứu của bạn chẳng giải quyết được vấn đề gì, hay chẳng có câu trả lời gì, và do đó người đọc có thể nghĩ sẽ rất phí thì giờ để đọc bài báo.

Không nên đặt tựa đề dài. Tựa đề bài báo không nên dài hơn 20 từ. Tựa đề dài có thể làm cho người đọc mất chú ý. Tựa đề như “Genetic determination of bone mineral density in adult women: a reevaluation of the twin model and the potential importance of gene -environmental interaction on heritability estimates” chẳng những dài dòng một cách không cần thiết, mà những chữ như “potential”, “estimates”, “adult” cũng không thiết yếu. Tác giả có thể viết lại như “Roles of gene-environmental interaction in the estimation of heritability of bone mass: a reevaluation of the twin model.”

Tựa đề bài báo nên có yếu tố mới. Yếu tố mới lúc nào cũng có hiệu quả thu hút sự chú ý của người đọc. Chẳng hạn như tựa đề “A new family of mathematical models for describing the human growth” (chú ý chữ “new”, tức “mới”) chắc được nhiều người chú ý hơn là tựa đề “A family of mathematical models for describing the human growth.”

Không nên đặt tựa đề như là một phát biểu. Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy những tựa đề như “Smoking causes cancer”, “Oestrogen is associated with bone loss, Physical activity is not a predictor of mortality,” v.v…. Những tựa đề này làm cho người đọc … bực mình. Trong khoa học, không có một cái gì xác định và chắc chắn. Chúng ta không thể nào chứng minh một giả thuyết. Do đó, dùng chữ “cause”, hay chia động từ hiện tại như “is” (tức là nói đến chân lí) là một cách viết thể hiện sự thiếu hiểu biết khoa học của tác giả. Nhà khoa học là người đi tìm chân lí, chứ không phải đã tìm được chân lí.

Vì tựa đề bài báo được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu, nên khi đặt tựa đề cần phải để ý đến những từ khóa (keywords). Phần lớn những cơ sở dữ liệu dùng tiêu đề và tựa đề làm thuật ngữ tìm kiếm. Chẳng hạn như bài báo với tựa đề “The effects exercise on free fatty acids in the blood” sẽ được phân loại dưới thuật ngữ “fatty acids”, “metabolism of fatty acids”, “exercise”, và “blood”. Nhưng nếu bái báo với tựa đề “The effects exercise on free fatty acids in the blood: a study in rats using chromotographic techniques,” thì sẽ được phân qua dưới thuật ngữ “composition of fatty acids”, “chromotographic technique”, “fatty acids in rats” và do đó sẽ thu hút nhiều độc giả hôn.

Chú ý rằng nhóm tác giả đặt tựa đề nói lên được ba khía cạnh chính của nghiên cứu, đó là tiểu đường (diabetes), huyết áp, và tỉ số vòng eo-mông. Chú ý thêm rằng, trước chữ diabetes, nhóm tác giả thêm tính từ “undiagnosed” để gây chú ý cho người đọc, mà cũng phản ảnh một thực trạng ở hầu hết các quần thể bệnh nhân.

Một bài báo khoa học thường có những phần sau đây: dẫn nhập (introduction), phương pháp (methods), kết quả (results), và bàn luận (discussion). Cấu trúc này được gọi tắt là cấu trúc IMRAD. Tuy nhiên, mỗi bài báo khoa học lúc nào cũng có phần tóm lược (abstract) để — như tên gọi — tóm tắt các khía cạnh chính của một công trình nghiên cứu hay một bài báo.

I. Tóm lược (Abstract)

Có 2 loại tóm lược: không có tiêu đề và có tiêu đề. Loại tóm lược không có tiêu đề là một đoạn văn duy nhất tóm tắt công trình nghiên cứu. Loại tóm lược có tiêu đề — như tên gọi – là bao gồm nhiều đoạn văn theo các tiêu đề sau đây: Background, Aims, Methods, Outcome Measurements, Results, và Conclusions. Tuy nhiên, dù là có hay không có tiêu đề, thì một bản tóm lược phải chuyển tải cho được những thông tin quan trọng sau đây:

Câu hỏi và mục đích của nghiên cứu. Phần này phải mô tả bằng 2 câu văn. Câu văn thứ nhất mô tả vấn đề mà tác giả quan tâm là gì, và tình trạng tri thức hiện tại ra sao. Câu văn thứ hai mô tả mục đích nghiên cứu một cách gọn nhưng phải rõ ràng.

Phương pháp nghiên cứu. Cần phải mô tả công trình nghiên cứu được thiết kế theo mô hình gì, đối tượng tham gia nghiên cứu đến từ đâu và đặc điểm của đối tượng, phương pháp đo lường, yếu tố nguy cơ (risk factors), chỉ tiêu lâm sàng (clinical outcome). Phần này có thể viết trong vòng 4-5 câu văn.

Kết quả. Trong phần này, tác giả trình bày những kết quả chính của nghiên cứu, kể cả những số liệu có thể lấy làm điểm thiết yếu của nghiên cứu. Nên nhớ rằng kết quả này phải được trình bày sao cho trả lời câu hỏi nghiên cứu đặt ra từ câu văn đầu tiên.

Kết luận. Một hoặc 2 câu văn kết luận và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu. Có thể nói phần lớn độc giả chú tâm vào câu văn này trước khi học đọc các phần khác, cho nên tác giả cần phải chọn câu chữ sao cho “thuyết phục” và thu hút được sự chú ý của độc giả trong 2 câu văn quan trọng này.

Nếu tựa đề bài báo phát biểu về nội dung của công trình nghiên cứu, thì bảng tóm lược cho phép bạn mô tả chi tiết hơn nội dung của công trình nghiên cứu. Độ dài của bảng tóm lược thường chỉ 200 đến 300 từ (tùy theo qui định của tập san). Bảng tóm lược giúp người đọc nên đọc tiếp bài báo hay bỏ qua bài báo. Do đó, tác giả cần phải cung cấp thông tin một cách ngắn gọn, nhưng có dữ liệu (chứ không phải chỉ hứa suông) và đi thẳng vào vấn đề (chứ không phải viết lòng vòng). Thông thường bảng tóm lược được viết sau khi đã hoàn tất bài báo. Kinh nghiệm của tôi trong những năm đầu nghiên cứu sinh cho thấy có khi tốn đến cả ngày chỉ để viết một abstract với 200 chữ. Tôi xem abstract như một bài thơ, tức là tác giả phải chọn từ ngữ rất cẩn thận để phản ảnh một cô đọng những điều mình muốn chuyển tải đến cộng đồng khoa học.

Background

The relative contribution of lean and fat to the determination of bone mineral density (BMD) in postmenopausal women is a contentious issue. The present study was undertaken to test the hypothesis that lean mass is a better determinant of BMD than fat mass.

Methods

This cross-sectional study involved 210 postmenopausal women of Vietnamese background, aged between 50 and 85 years, who were randomly sampled from various districts in Ho Chi Minh City (Vietnam). Whole body scans, femoral neck, and lumbar spine BMD were measured by DXA (QDR 4500, Hologic Inc., Waltham, MA). Lean mass (LM) and fat mass (FM) were derived from the whole body scan. Furthermore, lean mass index (LMi) and fat mass index (FMi) were calculated as ratio of LM or FM to body height in metre squared (m2).

Results

In multiple linear regression analysis, both LM and FM were independent and significant predictors of BMD at the spine and femoral neck. Age, lean mass and fat mass collectively explained 33% variance of lumbar spine and 38% variance of femoral neck BMD. Replacing LM and FM by LMi and LMi did not alter the result. In both analyses, the influence of LM or LMi was greater than FM and FMi. Simulation analysis suggested that a study with 1000 individuals has a 78% chance of finding the significant effects of both LM and FM, and a 22% chance of finding LM alone significant, and zero chance of finding the effect of fat mass alone.

Conclusions

These data suggest that both lean mass and fat mass are important determinants of BMD. For a given body size — measured either by lean mass or height — women with greater fat mass have greater BMD.

GS. TS. NGUYỄN VĂN TUẤN – Chuyên gia nghiên cứu cao cấp của Ủy hội Nghiên cứu y khoa và y tế quốc gia Úc

Nguồn: Sinh vật rừng Việt Nam

Bạn đang đọc nội dung bài viết Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học (Phần 1) trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!