Đề Xuất 2/2023 # Bài Tập Toán Lớp 3: Bài Toán Liên Quan Đến Rút Về Đơn Vị # Top 3 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Bài Tập Toán Lớp 3: Bài Toán Liên Quan Đến Rút Về Đơn Vị # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài Tập Toán Lớp 3: Bài Toán Liên Quan Đến Rút Về Đơn Vị mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Dạng Toán rút về đơn vị lớp 3

Lưu ý: Nếu không tìm thấy nút Tải về bài viết này, bạn vui lòng kéo xuống cuối bài viết để tải về.

Bước 1: Tóm tắt.

Bước 2: Lời giải thứ nhất: tìm giá trị của mỗi đơn vị.

Bước 3: Lời giải thứ hai: tìm giá trị theo yêu cầu bài toán hỏi.

Bài 1: Có 5 cái can như nhau đựng đầy được tất cả 50 lít dầu hoả. Hỏi:

a) 7 cái can như vậy đựng được bao nhiêu lít dầu hoả?

b) Nếu đổ đầy số lít dầu hoả đựng trong 7 can ở trên vào các can loại 5 lít cho đầy thì được bao nhiêu can 5 lít như vậy?

Giải

Bước 1: Tóm tắt

5 can: 50 lít

a, 7 can: ? lít.

b, Số lít của 7 can phần a: ? can 5 lít.

Bước 2: Tìm giá trị của mỗi đơn vị.

Số lít dầu hoả có trong mỗi can là:

50 : 5 = 10 (l)

Bước 3: Tìm giá trị theo yêu cầu bài toán hỏi.

a, Số lít mật ong có trong 7 can là:

7 x 10 = 70 (l)

b, Số can 5 lít dùng để đựng số dầu hoả trong 7 can là:

70 : 5 = 14 ( can)

ĐS: a, 70 l dầu hoả;

b, 14 can.

Bài 2: Bạn An đếm số bút chì đựng trong hộp. Nếu đếm theo chục thì được 6 chục bút chì. Hỏi nếu đếm theo tá thì được bao nhiêu tá bút chì?

Giải

Bước 1: Tóm tắt

Số bút: 6 chục.

Số bút: ? tá.

Bước 2: Tìm giá trị của mỗi đơn vị.

Theo bài ra: 6 chục bút = 6 x 10 = 60 bút.

Vậy số bút có trong hộp là: 60 (bút).

Bước 3: Tìm giá trị theo yêu cầu bài toán hỏi.

Số tá bút chì có trong hộp là:

60 : 12 = 5 (tá bút)

ĐS: 5 tá bút.

Bài 1: Người ta xay 100 kg thóc thì được 70 kg gạo. Hỏi:

a) Xay 200 kg thóc thì được bao nhiêu ki – lô – gam gạo?

b) Để xay được 7kg gạo thì cần dùng bao nhiêu ki-lô-gam thóc?

Bài 2: Có hai chuống nuôi thỏ. Bạn Huy đếm được ở chuồng thứ nhất có 24 chân thỏ và chuồng thứ hai có 24 tai thỏ. Hỏi chuồng nào có nhiều thỏ hơn và gấp số thỏ ở chuồng kia mấy lần?

Bài 3: Hiếu đố Huy: “Cả gà và thỏ đếm được 24 chân. Biết số đầu gà bằng số đầu thỏ. Đố bạn biết có mấy con gà và mấy con thỏ?” Em hãy giúp Huy giải bài toán này.

Bài 4: Huy đố Hiếu: “Cả gà và thỏ đếm được 24 chân. Biết số đầu gà gấp đôi số đầu thỏ. Đố bạn biết có mấy con gà và mấy con thỏ?” Em hãy giúp Hiếu giải bài toán này.

Bài 5: Huy đố các bạn: “Cả gà và thỏ đếm được 24 chân. Biết số đầu gà ít hơn số đầu thỏ. Đố bạn biết có mấy con gà và mấy con thỏ?” Em hãy giúp các bạn giải bài toán này.

Bài 6: Lúc đầu nhà trường thuê 3 xe ôtô chở vừa đủ 120 học sinh khối Ba đi tham quan. Sau đó có thêm 80 học sinh khối Bốn đi cùng. Hỏi phải thuê tất cả bao nhiêu xe loại đó để chở học sinh khối Ba và khối Bốn đi tham quan?

Bài 7: Đầu năm nhà trường tuyển vào lớp học phổ cập được 40 học sinh và đóng đủ 10 bộ bàn ghế để các em học. Sau đó lại vận động thêm một số em nữa vào lớp nên nhà trường phải đóng tất cả 12 bộ bàn ghế để các em học. Hỏi số học sinh vận động thêm vào lớp là bao nhiêu em?

Bài 8: Có 24 cái bánh nướng đựng đều trong 6 hộp. Cô giáo mua về cho lớp mẫu giáo 5 hộp bánh như vậy và chia đều cho các cháu, mỗi cháu được nửa cái. Hỏi lớp mẫu giáo đó có bao nhiêu cháu?

Bài 9: Có 6 gói kẹo. Bạn Huy lấy ra mỗi gói 10 gói kẹo thì thấy số kẹo còn lại ở 6 gói đúng bằng số kẹo ở 4 gói nguyên. Hỏi mỗi gói kẹo có bao nhiêu cái?

Bài 10: Để cưa một khúc gỗ thành hai đoạn phải mất 10 phút. Hỏi muốn cưa khúc gỗ thành 4 đoạn phải mất bao nhiêu phút?

Bài 11: Trong nửa giờ Huy làm được 6 bông hoa, còn Hiếu để làm được 10 bông hoa như vậy phải mất 40 phút. Hỏi ai làm hoa nhanh hơn?

Bài 12: Cứ hai bạn đấu với nhau thì được một ván cờ. Hỏi có bốn bạn đấu với nhau thì được mấy ván cờ (mỗi bạn đều đấu với các bạn khác).

Bộ bài tập ôn tập ở nhà lớp 3

Đề thi giữa học kì 2 lớp 3 năm 2019 – 2020

Đề Tài Một Số Phương Pháp Về Giải Bài Toán Liên Quan Đến Rút Về Đơn Vị Ở Lớp 3

2. Thực trạng 2.1 Thuận lợi, khó khăn Được sự quan tâm, giúp đỡ của Phòng giáo dục cùng với Lãnh đạo nhà trường, giáo viên đã kịp thời tiếp thu và đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình VNEN nên không những nâng cao chất lượng giải toán cho học sinh mà còn giúp các em khả năng giao tiếp tốt, tự tin nêu ý kiến trước tập thể. Học sinh chưa chịu khó ôn luyện ở nhà, cha mẹ học sinh cũng ít chú ý việc học tập của các em nên một số em có tình trạng học trước quên sau. Một vài em khả năng tư duy chưa cao, chưa phân biệt được các dạng toán, các kiểu bài nên kết quả học tập còn thấp. 2.2 Thành công, hạn chế Khi vận dụng đề tài này tôi thấy học sinh giải quyết các hoạt động học tập khá nhanh, không bị nhầm lẫn giữa hai kiểu bài, kết quả đạt được cao hơn so với trước rất nhiều. Tuy nhiên, vẫn còn một vài em quá nhút nhát, chưa mạnh dạn nêu ý kiến trước nhóm nên phần nào ảnh hưởng đến kết quả học tập. 2.3 Mặt mạnh, mặt yếu Nội dung đề tài mà tôi đang nghiên cứu đã truyền đạt một cách ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu. Cách thiết kế bài giảng thể hiện rõ mục tiêu cần đạt được, giúp giáo viên dễ vận dụng và học sinh cũng dễ giải quyết vấn đề. Nội dung điều chỉnh đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu giúp học sinh tích cực làm việc. Phương pháp dạy học này hướng dẫn học sinh đi từ dễ đến khó nhằm giúp các em nắm được các bước giải bài toán có lời văn, từ đó rèn kĩ năng phân biệt tốt hai kiểu bài toán trên. 2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động Một số em chưa ham học, từ đó chưa tích cực tiếp thu bài giảng không biết tự nghiên cứu hay trao đổi, học hỏi bạn bè, có em trí nhớ không tốt, chỉ trong một thời gian ngắn, các em không còn nhớ gì nữa nên hoàn thành nhiệm vụ học tập còn chậm. Bên cạnh đó, vài em có bố mẹ đi làm ăn xa phải ở với ông bà giúp đỡ việc nhà, có em hoàn cảnh gia đình khó khăn, việc chăm sóc sức khỏe còn hạn chế nên đôi khi còn nghỉ học ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập. 2.5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra Môn Toán là môn học cần rất nhiều thời gian học tập và rèn luyện để khắc sâu kiến thức. Nhưng hầu hết các em đều là con em nhà nông, bố mẹ còn ít quan tâm đến việc học tập của con em mình nên các em chưa có tính tự giác học tập ở nhà, không chịu khó học bài, xem bài trước khi đến lớp. Hơn nữa, trí nhớ của một vài em còn hạn chế dẫn đến tình trạng học trước quên sau. Một số học sinh còn có tính tự ti, rụt rè, không mạnh dạn trao đổi, nêu ý kiến trước tập thể, thao tác làm việc còn chậm chạp nên hoàn thành nhiệm vụ học tập chưa đạt hiệu quả cao. Để hoạt động dạy học có hiệu quả, giáo viên luôn lấy học sinh làm trung tâm, áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Trong đó môn Toán là môn học được giáo viên và học sinh đầu tư thời gian và trí tuệ nhiều nhất. Giáo viên phải tìm tòi, nghiên cứu, linh hoạt vận dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau: Phương pháp trực quan, gợi mở, vấn đáp tùy theo mức độ ở từng đối tượng học sinh. Căn cứ vào tình hình thực tế như vậy, tôi đã mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy dạng toán này nhằm giúp các em chủ động không rập khuôn mà phải dựa vào tư duy, biết cách phân tích bài toán để tìm ra cách giải đúng. 3. Giải pháp, biện pháp 3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp – Giúp học sinh hiểu được nội dung, biết cách tóm tắt, phân tích và tổng hợp được bài toán có lời văn. – Rèn kĩ năng giải thành thạo dạng toán trên. Nâng cao chất lượng học tập môn Toán. 3.2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp a. Hướng dẫn học sinh phương pháp chung để giải bài toán có lời văn Trong các hoạt động yêu cầu giải bài toán có lời văn, giáo viên phải soạn trước nội dung điều chỉnh bổ sung hoạt động cá nhân – cặp đôi – nhóm – cả lớp. Trong nội dung điều chỉnh, giáo viên đưa ra một số yêu cầu của hoạt động như: Tìm các “dữ kiện”, “điều kiện” và “ẩn số” của bài toán. Bài toán thuộc dạng toán nào? Tóm tắt như thế nào? Em hãy phân tích sau đó tổng hợp bài toán. Sau khi học sinh thực hiện các hoạt động cá nhân – cặp đôi – nhóm để giải quyết vấn đề thì giáo viên chuyển sang hoạt động chung để hướng dẫn các em nắm chắc các bước sau: + Bước 1: Đọc kĩ đề toán. + Bước 2: Tóm tắt bài toán. + Bước 3: Phân tích bài toán. + Bước 4: Tổng hợp bài toán. + Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá kết quả. Cụ thể yêu cầu đối với học sinh như sau: * Đọc kĩ đề toán: – Học sinh đọc ít nhất 3 lần nội dung bài toán. Hướng dẫn học sinh xác định các “dữ kiện”, “điều kiện” và “ẩn số” của bài toán. “Dữ kiện” là những cái đã cho, “ẩn số” là cái cần tìm, “điều kiện” là quan hệ giữa cái cần tìm và cái đã cho (hay nói cách khác là quan hệ giữa “ẩn số” và “dữ kiện”). * Tóm tắt bài toán: Tùy theo từng dạng toán mà có cách tóm tắt khác nhau. – Cách 1: Tóm tắt bằng ngôn ngữ. Ví dụ: Mẹ mua 5 chiếc bút hết 7500 đồng. Hỏi mẹ mua 3 chiếc bút như thế hết bao nhiêu tiền? Tóm tắt: 5 chiếc bút: 7500 đồng 3 chiếc bút: … đồng? – Cách 2: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. Ví dụ: Mẹ mua 5 chiếc bút hết 7500 đồng. Hỏi mẹ mua 3 chiếc bút như thế hết bao nhiêu tiền? Tóm tắt: 7500 đồng ? đồng – Cách 3: Tóm tắt bằng bảng (vẽ). Ví dụ: Trong một buổi học nữ công hai bạn Cúc, Mai làm 2 bông hoa cúc, mai. Mai nói với Cúc: Thế là trong chúng ta chẳng có ai làm loại hoa trùng với tên mình cả. Hỏi ai đã làm hoa nào ? Tóm tắt: Loại hoa Tên người cúc mai Cúc 0 1 Mai 1 0 – Cách 4: Tóm tắt bằng sơ đồ Graph (đồ thị). Ví dụ: Tìm một số biết rằng số đó lần lượt cộng với 1 rồi nhân với 2 được bao nhiêu đem chia cho 3 rồi trừ đi 4 thì được 5. Tóm tắt: ? + 1 x 2 : 3 – 4 5 – Cách 5: Tóm tắt bằng sơ đồ Ven. Ví dụ: Nhà bạn Nam trồng 335 cây cam và quýt. Nhà bạn Khanh trồng 300 cây cam và bưởi, biết số cam và bưởi của nhà bạn Khanh bằng nhau và bằng số cam nhà bạn Nam. Tính số cây cam, quýt và bưởi của mỗi nhà ? Tóm tắt: ? cây quýt ? cây cam 335 cây ? cây 300 cây bưởi • Lưu ý: Sơ đồ Graph, sơ đồ Ven là tên gọi của các cách tóm tắt. Tên gọi tuy không có trong sách hướng dẫn học (kiến thức mở rộng) nhưng nội dung của hai cách tóm tắt này rất đơn giản, dễ hiểu. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên chỉ cần giúp học sinh nhớ tên gọi của hai cách tóm tắt này thì học sinh có thể dễ dàng tóm tắt được bài toán thuộc dạng này. * Phân tích bài toán: Hướng dẫn học sinh đi từ cái chưa biết đến cái đã biết. Ví dụ: Một cửa hàng trong hai ngày bán được 1 kg đường. Ngày đầu bán được 200g đường. Hỏi ngày thứ hai cửa hàng bán được nhiều hơn ngày thứ nhất bao nhiêu gam đường? Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán bằng cách đặt một số câu hỏi như sau: * Tổng hợp bài toán: Tổng hợp bài toán là đi từ cái đã biết đến cái chưa biết. Ví dụ bài toán trên: Một cửa hàng trong hai ngày bán được 1 kg đường. Ngày đầu bán được 200g đường. Hỏi ngày thứ hai cửa hàng bán được nhiều hơn ngày thứ nhất bao nhiêu gam đường? Hướng dẫn học sinh tổng hợp bài toán bằng cách đặt một số câu hỏi như sau: * Sau khi tổng hợp bài toán, giáo viên hướng dẫn học sinh cách trình bày bài giải. Trình bày bài giải của một bài toán phải đúng, đẹp, ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu. Bài giải gồm có lời giải, phép tính và đáp số. Lời giải không được viết tắt, sau mỗi lời giải phải có dấu hai chấm “:”. Phép tính đặt hàng ngang, trong phép tính không ghi đơn vị mà chỉ ghi đơn vị ở sau kết quả của phép tính và để trong dấu ngoặc đơn. Đáp số ghi hơi lệch về bên phải nhưng lúc này đơn vị không đặt trong ngoặc đơn. – Ở một số bài toán đơn vị ghi sau kết quả của phép tính khác với đơn vị ghi ở phần đáp số. – Mỗi bài toán có thể có nhiều cách giải khác nhau nên khi giải bằng nhiều cách thì đáp số chỉ ghi ở cách giải cuối cùng. Ví dụ: Một cửa hàng trong hai ngày bán được 1350 quả cam. Ngày đầu bán được 250 quả cam. Hỏi ngày thứ hai cửa hàng bán được nhiều hơn ngày thứ nhất bao nhiêu quả cam? Bài giải: Ngày thứ hai cửa hàng bán được số quả cam là: 1350 – 250 = 1100 (quả) Ngày thứ hai cửa hàng bán được nhiều hơn ngày thứ nhất số quả cam là: 1100 – 250 = 850 (quả) Đáp số: 850 quả cam * Kiểm tra lời giải và đánh giá kết quả: Giáo viên cần nhắc nhở học sinh thực hiện các bước sau: – Đọc lời giải. Kiểm tra các câu văn diễn đạt trong lời giải đúng chưa. – Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa. – Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên. – Thử lại đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu chưa. – Nếu giải bài toán theo nhiều cách thì phải đối chiếu kết quả cuối cùng của các cách giải đó. Để học sinh giải tốt kiểu bài toán 1 tôi tiến hành dạy theo các phương pháp và hình thức sau: Tôi soạn sẵn nội dung điều chỉnh phát cho mỗi em một tờ. Nội dung điều chỉnh như sau: (trang 67) I. Mục tiêu: Giúp học sinh: – Kỹ năng giải toán thành thạo. – Nâng cao khả năng tư duy, lí luận, phát triển ngôn ngữ. II. Hoạt động dạy học A. Hoạt động cơ bản: Hoạt động 1: Đọc bài toán Việc 1: Em đọc kĩ đề bài toán Việc 2: Em hãy trả lời các câu hỏi sau: – Em hãy tìm những dữ kiện đã cho ? – Em hãy nêu cái cần tìm ? Việc 1: Em và bạn cùng nhau phân tích bài toán: – Đề bài yêu cầu tính gì ? – Đề bài đã cho biết gì ? Việc 1: Em và các bạn cùng nhau tổng hợp bài toán: – Muốn biết số lít mật ong trong một can ta phải tính như thế nào? – Muốn biết số lít mật ong trong 5 can ta phải tính ra sao? Em và bạn cùng nhau đi đến thống nhất điền số thích hợp vào chỗ chấm. Việc 2: Nhóm trưởng báo cáo kết quả với cô giáo. Việc 1: Em đọc kĩ đề bài toán Việc 2: Em suy nghĩ và trả lời các câu hỏi sau: – Em hãy tìm những dữ kiện đã cho ? – Em hãy nêu cái cần tìm ? Việc 1: Em và bạn cùng nhau phân tích bài toán: – Đề bài đã cho biết gì ? – Đề bài yêu cầu tính gì ? Việc 1: Em và các bạn cùng nhau tổng hợp bài toán: – Muốn biết số đường chứa trong mỗi túi ta phải tính như thế nào? – Muốn biết số đường chứa trong 3 túi ta phải tính ra sao? Em và bạn cùng nhau đi đến thống nhất điền số thích hợp vào chỗ chấm. Việc 2: Nhóm trưởng báo cáo kết quả với cô giáo. Việc 1: Để giải được bài toán phải thực hiện mấy bước? Bước 1 ta tính gì? Ta thực hiện phép tính gì? Bước 2 ta tính gì? Ta thực hiện phép tính gì? Với nội dung điều chỉnh như trên, tôi chuẩn bị giáo án theo mô hình VNEN như sau: Hoạt động dạy Hoạt động học Giới thiệu bài . A. Hoạt động cơ bản: Có 35 l mật ong đựng đều vào 7 can. a) Hỏi mỗi can đựng bao nhiêu lít mật ong? b) Hỏi 5 can như thế đựng bao nhiêu lít mật ong? Nêu 1 số câu hỏi để lưu ý học sinh cách trình bày bài giải. Hỏi: + Sau lời giải phải có dấu gì ? + Phép tính phải viết như thế nào ? + Đơn vị đặt ở đâu ? + Đáp số ghi như thế nào ? – Nhận xét, tuyên dương. Hoạt động 2: Đọc bài toán và điền vào chỗ chấm: Có 25kg đường đựng đều vào 5 túi. Hỏi 3 túi như thế đựng bao nhiêu ki-lô-gam đường? * Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước: Bước 1: Đọc kĩ đề toán – Nêu những dữ kiện đã cho ? – Nêu cái cần tìm ? Bước 2: Tóm tắt đề toán: Nhận xét, sửa chữa. Bước 3: Phân tích bài toán: – Đề bài yêu cầu tính gì ? – Đề bài đã cho biết gì ? .Bước 4: Tổng hợp bài toán: – Theo kiểu bài toán 1 thì chúng ta phải tính gì trước ? – Chúng ta phải thực hiện phép tính gì ? – Sau đó chúng ta phải tính gì ? – Ta thực hiện phép tính gì ? – Nhận xét, tuyên dương. * Hướng dẫn HS chốt bài toán: – Để giải được bài toán phải thực hiện mấy bước? – Bước 1 ta tính gì? Ta thực hiện phép tính gì? – Bước 2 ta tính gì? Ta thực hiện phép tính gì? Chuẩn bị đồ dùng. Ghi bài vào vở. Đọc mục tiêu. Hoạt động cá nhân – cặp đôi – nhóm. – Cá nhân đọc kĩ đề bài toán. – Làm việc cặp đôi, nhóm theo yêu cầu nội dung điều chỉnh. – Dấu hai chấm. – Viết hàng ngang. – Sau kết quả, trong dấu ngoặc đơn. – Ghi bên phải, đơn vị không có dấu ngoặc đơn, gạch dưới từ đáp số. Bài giải: a) Mỗi can đựng số lít mật ong là: 35 : 7 = 5 (l) b) Năm can đựng số lít mật ong là: 5 x 5 = 25 (l) Đáp số: a) 5 l mật ong b) 25 l mật ong – Nhóm trưởng báo cáo kết quả làm việc với giáo viên. – Hoạt động cá nhân – cặp đôi – nhóm – cả lớp. – Cá nhân đọc kĩ bài toán và trả lời câu hỏi: – Có 25 kg đường đựng vào 5 túi. – Hỏi 3 túi như thế đựng bao nhiêu ki-lô-gam đường. – Các túi đựng số ki-lô-gam đường như nhau. – Học sinh dùng bút chì gạch chân các yếu tố cơ bản. Tóm tắt: 5 túi: 25 kg đường. 3 túi: kg đường ? – Trao đổi cặp đôi trả lời câu hỏi. – Tính số ki-lô-gam đường đựng trong 3 túi. – 25 ki-lô-gam đường đựng trong 5 túi. Hoạt động nhóm. – Số ki-lô-gam đường đựng trong một túi. – Phép tính chia. – Số ki-lô-gam đường đựng trong 3 túi. – Phép tính nhân. – Nhóm thống nhất bài giải sau đó điền số thích hợp vào chỗ chấm. – Đáp số: 15 kg đường. – Báo cáo với giáo viên. – Học sinh tự kiểm tra bài giải của mình. – Hoạt động cả lớp. – 2 bước. – Số ki-lô-gam đường trong một túi. Thực hiện phép tính chia. – Số ki-lô-gam đường trong ba túi. Thực hiện phép tính nhân. – Bài 88 (trang 56), tôi cũng soạn nội dung điều chỉnh và giáo án tương tự như trên để học sinh làm việc. Sau đó, tôi tiến hành cho học sinh so sánh giữa hai kiểu bài: Các bước Kiểu bài 1 (Bài 68 trang 67) (Tìm giá trị của các phần) Kiểu bài 2 (Bài 88 trang 56) (Tìm số phần) Bước 1 (Giống nhau) – Tìm giá trị của một phần. – Thực hiện phép tính chia. – Đây là bước rút về đơn vị. Bước 2 (Khác nhau) – Tìm giá trị của một phần. – Thực hiện phép tính nhân (lấy giá trị một phần nhân với số phần). – Tìm số phần. – Thực hiện phép tính chia (lấy giá trị các phần chia cho giá trị một phần). – Như vậy, cả hai bài toán đều thuộc dạng toán rút về đơn vị. Tuy nhiên, khi bài toán yêu cầu tìm giá trị của các phần là thuộc kiểu bài toán 1. Khi bài toán yêu cầu tìm số phần là thuộc kiểu bài toán 2. Cách giải hai kiểu bài toán tôi đã hướng dẫn như trên. c. Hướng dẫn học sinh luyện tập Khi học sinh nắm được 2 cách giải của hai kiểu bài toán, tôi lại tiến hành ra một số bài tập cho học sinh làm, giúp các em rèn kĩ năng nhận diện các dạng toán. Bài 1: Một thùng bánh đựng 1550 hộp bánh. Hỏi 5 thùng như thế đựng bao nhiêu hộp bánh ? Bài 2: Một thợ xây trong 3 ngày thì xây được 1245 viên gạch. Hỏi trong 5 ngày thợ xây đó xây được bao nhiêu viên gạch, biết mỗi ngày thợ xây đó xây được số viên gạch như nhau? Bài 3: Cứ 4 thùng đựng được 1228 l xăng. Hỏi 1842 l xăng thì cần mấy thùng để đựng hết số lít xăng đó, biết mỗi thùng đựng số lít xăng như nhau? Hướng dẫn học sinh luyện tập thực hiện tương tự như các bước đã nêu ở mục 3.2.a và mục 3.2.b 3.3 Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp – Để thực hiện giải pháp, biện pháp trên có hiệu quả thì yêu cầu đầu tiên là người giáo viên phải nắm được kiến thức cơ bản, hiểu và vận dụng tốt phương pháp này. – Dạy toán cho học sinh là cả một quá trình lâu dài, người giáo viên phải biết sáng tạo, có tính kiên trì và chịu khó, kích thích tư duy sáng tạo giúp các em biết phân tích, tổng hợp bài toán, biết tự kiểm tra đánh giá kết quả. Giáo viên cần phải quan sát quá trình làm bài của học sinh, phát hiện ra chỗ hổng để kịp thời hướng dẫn cho các em. Kịp thời tuyên dương các em có tiến bộ dù kết quả bài tập chưa đạt yêu cầu. Phải tạo sự đoàn kết, thương yêu giúp đỡ của học sinh, tạo cho các em động cơ ham học. Trong việc uốn nắn các em, giáo viên phải luôn giữ thái độ bình tĩnh, không dùng lời lẽ nặng nề với các em, hòa hợp với các em, xem học sinh là con em của mình, chia sẽ vui buồn, lắng nghe ý kiến của các em để từ đó có biện pháp giáo dục phù hợp. Giáo viên phải có tâm huyết với nghề nghiệp, nhiệt tình giảng dạy, thường xuyên động viên, giúp đỡ các em khi gặp khó khăn. – Là học sinh lớp 3 các em phải đọc, viết tốt và thực hiện được bốn phép tính cơ bản cộng, trừ, nhân, chia. Đồng thời, các em phải biết giúp đỡ nhau, biết tranh thủ sự giúp đỡ của bạn, biết hợp tác, trao đổi, làm việc theo nhóm. 3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp

Giúp Học Sinh Lớp 3 Giải Bài Toán Rút Về Đơn Vị

Bài viết này Gia sư Hà Nội sẽ đưa ra phương pháp giải bài toán rút về đơn vị dành cho học sinh lớp 3. Giúp các em giải thành thạo dạng Toán này.

Có 7 thùng chứa 2135 quyển vở. Hỏi 5 thùng như thế chứa bao nhiêu quyển vở? (Số quyển vở trong mỗi thùng như nhau).

Phương pháp giải bài toán rút về đơn vị

1. Bước 1: Đọc kĩ đề bài

– Học sinh đọc kĩ đề để nắm được 3 yếu tố cơ bản: đầu bài cho gì? Cần tìm gì? Và mối quan hệ giữa cái đã có và cái phải tìm là gì?

2. Bước 2: Tóm tắt bài toán

Đối với bài toán rút về đơn vị, cách tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng sẽ là một giải pháp hợp lý. Ví dụ: Tóm tắt ví dụ đầu bài 2135 quyển 7 thùng 5 thùng

3. Bước 3: Phân tích bài toán

– Bước này cần sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ dưới dạng các câu hỏi thông thường: + Bài toán cho biết gì? + Bài toán hỏi gì? + Muốn tìm cái đó ta cần biết gì? + Cái này biết chưa? + Muốn tìm cái chưa biết cần dựa vào đâu? Dùng phương pháp nào?

4. Bước 4: Viết lời giải

– Dựa và phần tóm tắt và quá trình phân tích học sinh dễ dàng viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác. – Lưu ý trong khi viết lời giải là dạy cách để các em viết câu dẫn. Ví dụ: Đối với ví dụ đầu bài, câu dẫn sẽ là: Số quyển vở trong 5 thùng là.

5. Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải

Hướng dẫn các em thực hiện qua các bước: + Đọc lại lời giải. + Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lý chưa, các câu văn diễn đạt đúng chưa. + Thử lại kết quả vừa tính từ bước đầu. + Thử lại đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của bài chưa.

Phương Pháp Dạy Dạng Toán Rút Về Đơn Vị Lớp 3

a/ Đọc kĩ đề toán: Cần nắm được ba yếu tố cơ bản. Những ” dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong đầu bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện” là quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số.

b/ Phân tích bài toán: – Bài toán cho biết gì? – Bài toán hỏi gì? – Muốn tìm cái đó ta cần biết gì? – Cái này biết chưa? – Còn cái này thì sao? – Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào?

c/ Tóm tắt đề toán: * Cách 1: Tóm tắt bằng chữ. * Cách 2: Tóm tắt bằng chữ và dấu. * Cách 3: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. * Cách 4: Tóm tắt bằng hình tượng trưng. * Cách 5: Tóm tắt bằng lưu đồ. * Cách 6: Tóm tắt bằng sơ đồ Ven. * Cách 7: Tóm tắt băng kẻ ô.

d/ Viết bài giải

e/ Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải:

– Đọc lại lời giải. – Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn đạt trong lời giải đúng chưa. – Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên. – Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa.

4/ Các ví dụ: Vd1: Có 32kg cám đựng đều trong 4 túi. Hỏi 8 túi như thế đựng được bao nhiêu kg cám? Phân tích: – Bài toán cho biết gì? ( CÓ 32kg cám đựng đều trong 4 túi) – Bài toán hỏi gì? (8 túi đựng bao nhiêu kg cám?) Tóm tắt: 4 túi : 32 kg 8 túi: ? kg Muốn giải đúng ta phải xác định đúng kiểu bài

Bài giải: 1 túi đựng được số kg cám là: 32 : 4 = 8 (kg) 8 túi đựng được số kg cám là: 8 x 8 = 64 (kg) Đáp số: 64kg

Vd2: Chó 32kg cám, đựng đều trong 4 túi, hỏi 40kg thì đựng trong mấy túi?

Phân tích:

– Bài toán cho biết gì? ( CÓ 32kg cám đựng đều trong 4 túi) – Bài toán hỏi gì? (40kg đựng vào mấy túi?)

Tóm tắt: 32kg: 4 túi 40kg: ? túi

Bài giải: 1 túi đựng số kg là: 32 : 4 = 8 (kg) 40kg đựng được số túi là: 40 : 8 = 5 (túi) Đáp số: 5 túi

5/ Bài tập tự luyện Bài 1: Có 8 bao gạo đựng tất cả 448 kg gạo. Hỏi có 5 bao gạo như thế nặng bao nhiêu kg?

Bài 2: Một cửa hàng có 6 thùng nước mắm như nhau chứa tổng cộng 54 lít. Cửa hàng đã bán hết 36 lít. Hỏi cửa hàng còn lại bao nhiêu thùng nước mắm.

Bài 3: Lúc đầu có 5 xe tải chở tổng cộng 210 bao đường vào kho, sau đó có thêm 3 xe nữa chở đường vào kho. Hỏi có tất cả bao nhiêu bao đường được chở vào kho? (Biết các xe tải chở số bao đường bằng nhau)

Bài 4: Một cửa hàng có 6 hộp bút chì như nhau đựng tổng cộng 144 cây bút chì, cửa hàng đã bán hết 4 hộp bút chì. Hỏi cửa hàng còn lại bao nhiêu cây bút chì?

Bài 5: Hùng có 56 nghìn đồng mua đợc 8 quyển truyện, Dũng có ít hơn Hùng 21 nghìn đồng. Hỏi Dũng mua được bao nhiêu quyển truyện tranh?

Bài 6: Lan có 6 hộp kẹo, Lan cho bạn 24 viên kẹo thì Lan còn lại 4 hộp kẹo nguyên. Hỏi Lan có tất cả bao nhiêu viên kẹo?

Bài 7: Một cửa hàng nhập về 168 bao đường và chia đều vào 3 kho, sau đó lại nhập thêm vào mỗi kho 16 bao đường và bán hết số bao đường trong 2 kho. Hỏi cửa hàng đã bán bao nhiêu bao đường?

Bài 8: An có 64 viên bi chia đều thành 8 hộp, Bình có 48 viên bi cũng được chia vào các hộp như An. Hỏi Bình có ít hơn An bao nhiêu hộp bi?

Bài 9: Biết rằng cứ 5 gói kẹo như nhau thì đếm được 40 viên. Hỏi muốn chia cho 36 em thiếu nhi, mỗi em 6 viên kẹo thì phải mua tất cả bao nhiêu gói kẹo?

Bài 10: Dũng có 72 viên bi gồm bi xanh và bi đỏ, Dũng chia ra thành các hộp bằng nhau, Dũng chia được 5 hộp bi xanh và 4 hộp bi đỏ. Hỏi Dũng có bao nhiêu viên xanh, bao nhiêu viên bi đỏ?

Bài 11: Một cửa hàng có một số thùng dầu như nhau chứa tổng cộng 72 lít, người ta thêm vào số dầu đó 3 thùng thì số dầu có tất cả là 99 lít. Hỏi lúc đầu cửa hàng có bao nhiêu thùng dầu?

Bài 12: Huệ xếp 9 chiếc thuyền mất 36 phút, Hoa xếp 6 chiếc thuyền mất 30 phút. Hỏi Huệ xếp 5 chiếc thuyền và Hoa xếp 4 chiếc thuyền thì ai xếp xong trước? (biết 2 bạn bắt đầu xếp thuyền cùng một lúc).

Bài 13: Có hai chở hàng, xe thứ nhất chở nhiều hơn xe thứ hai 400 kg gạo. Xe thứ nhất chở 8 bao, xe thứ hai chở 6 bao gạo. Hỏi mỗi xe chở được bao nhiêu kg gạo?

Bài 14: Có một tổ học sinh tham gia trồng rừng, người ta giao cứ 5 học sinh thì trồng 25 cây, nhưng thực tế mỗi học sinh lại trồng nhiều hơn nhiệm vụ đợc giao 2 cây nên tổng số cây trồng đợc là 238 cây. Hỏi tổ HS đó có bao nhiêu em?

Bài 15: Cô giáo có 192 viên kẹo đựng đều trong các hộp, cô giáo lấy ra mỗi hộp 8 viên để chia cho các em, sau khi chia xong cô còn lại 128 viên kẹo. Hỏi lúc đầu cô giáo có bao nhiêu hộp kẹo?

Bài 16: An có một số hộp bi như nhau, An đếm thử 3 hộp thì thấy có 24 viên, An lấy ra mỗi hộp 2 viên để chia cho Bình, sau khi cho Bình An còn lại 48 viên. Hỏi An có bao nhiêu hộp bi?

Bài 17: Một người mua 126 kg đường dự định chia thành 9 bao nhưng sau đó mỗi bao lại chứa ít hơn dự định 8kg. Hỏi 126 kg đường được chia thành mấy bao?

Bài 18: Có 7 thùng dầu, mỗi thùng có 12 lít. Nếu lấy số dầu trên chia đều vào các thùng 4 lít thì chia được bao nhiêu thùng?

Bài 18: Có 9 hộp kẹo như nhau chứa tổng cộng 144 viên kẹo, người ta chia cho các em thiếu nhi, mỗi em 4 viên thì hết 8 hộp. Hỏi có bao nhiêu em thiếu nhi được chia kẹo?

Bài 19: Mẹ chia kẹo cho Hồng và Lan, mỗi lần chia Hồng đựơc 6 viên còn Lan được 4 viên. Sau khi chia xong Hồng đợc nhiều hơn Lan 12 viên kẹo. Hỏi mỗi bạn được bao nhiêu viên kẹo?

Bài 20: Hai thùng có 58 lít dầu, nếu thêm vào thùng thứ nhất 5 lít thì thùng thứ nhất có số dầu kém thùng thứ hai 2 lần. Hỏi mỗi thùng có bao nhiêu lít dầu

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài Tập Toán Lớp 3: Bài Toán Liên Quan Đến Rút Về Đơn Vị trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!