Đề Xuất 2/2023 # Bài 1 Trang 202 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1 # Top 3 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Bài 1 Trang 202 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1 # Top 3 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài 1 Trang 202 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trả lời câu hỏi bài 1 trang 202 SGK Ngữ văn lớp 9 tập 1 phần hướng dẫn soạn bài Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng)

Tài liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 1 trang 202 SGK Ngữ văn 9 tập 1 phần trả lời câu hỏi đọc – hiểu, soạn bài Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) chi tiết và đầy đủ nhất.

Đề bài

Em hãy kể tóm tắt cốt truyện của đoạn trích. Tình huống nào đã bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con của ông Sáu và bé Thu?

Trả lời bài 1 trang 202 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Câu trả lời tham khảo

– Tóm tắt: Ông Sáu xa nhà tham gia kháng chiến suốt tám năm trời, khao khát mong mỏi đến ngày được trở về gia đình gặp mặt con gái. Nhưng bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm cho em không giống với cha trong bức ảnh chụp chung với má. Em đối xử với ba như người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, lúc tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi trở lại nơi chiến đấu. Tại khi căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Nhưng món quà chưa kịp trao cho con thì trong một trận càn, ông đã hy sinh. Trước lúc nhắm mắt ông còn kịp trao cây lược cho người bạn để gửi cho con gái.

– Tình huống bộc lộ sâu sắc và cảm động tình cha con:

Tình huống thứ nhất là khi bé Thu không nhận cha. Vì cuộc kháng chiến mà người cha đi biền biệt suốt tám năm, từ khi bé Thu chưa đầy một tuổi. Sau tám năm xa cách, anh trở về, đứa con gái không chịu nhận ba. Đến lúc con nhận ra và gọi anh Sáu bằng ba là lúc anh phải ra đi nhận nhiệm vụ mới.

Tình huống thứ hai là khi anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái bằng tất cả tình yêu thương. Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh trong chiến trường.

– Tóm tắt: Ông Sáu là một cán bộ kháng chiến,xa nhà nhiều năm. Mãi đến khi hòa bình lập lại ông mới có dịp về thăm nhà. Bé Thu không nhận ông là cha vì thấy xa lạ. Đến khi nhận ra người cha và tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ,ông dồn nỗi nhớ thương và tình yêu con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà để tặng cho con.Trong một trận càn của địch,ông đã hi sinh. Ông Sáu còn kịp đưa cây lược ngà cho người bạn đem về trao lại cho bé Thu.

– Tình huống truyện thể hiện tình cảm cha con của ông Sáu

+ Tình huống 1: Anh Sau được về phép 3 ngày nhưng bé Thu không nhận anh Sáu là ba

+ Tình huống 2: Trước lúc trở lại chiến khu, bé Thu đã nhận ra ba thì hai ba con phải chia tay

+ Tình huống 3: Anh Sáu ở chiến khu làm chiếc lược ngà và hi sinh

Tóm tắt đoạn trích:

Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến, mãi đến khi đứa con lên 8 tuổi ông mới được về thăm nhà. Bé Thu nhất quyết không nhận cha. Nghe bà ngoại giải thích, bé Thu nhận ra ba mình nhưng đó cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ, người cha đã dồn hết tình của mình vào việc làm cho con gái một chiếc lược chải tóc bằng ngà. Trước lúc hi sinh, ông đã kịp trao chiếc lược cho người đồng đội với sự ủy thác thiêng liêng.

* Tình huống:

– Người cha trở về thăm nhà nhưng thật trớ trêu, đứa con từ chối cha quyết liệt và khi nhận ra cha cũng là lúc họ phải chia tay.

– Ở căn cứ, người cha đã dồn tất cả tình yêu thương vào việc làm chiếc lược ngà tặng con nhưng ông đã hi sinh khi chưa kịp trao món quà đó cho con.

* Ý nghĩa:

– Tình huống thứ nhất bộc lộ tình yêu thương mãnh liệt của con với cha.

– Tình huống thứ hai thể hiện tình cảm sâu sắc của cha đối với con.

Ông Sáu sau một thời gian đi kháng chiến xa nhà, ông được trở lại thăm gia đình và đứa con gái sau 8 năm xa cách. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên má làm ông Sáu không giống như trong bức hình chụp chung với má. Mãi về sau khi nhận ra cha thì đã muộn. Vào chiến khu ông làm chiếc lược tặng cho con. Nhưng chưa kịp trao cho con, ông Sáu hi sinh trong một trận càn, trước khi nhắm mắt, ông chỉ kịp nhờ bác Ba trao lại cho con

– Tình huống không chịu nhận ba của bé Thu là bất ngờ đầu tiên. Anh Sáu đi kháng chiến chống Pháp từ khi bé Thu chưa đầy một tuổi.Sau tám năm xa cách, anh trở về, đứa con gái không chịu nhận ba. Đến lúc bé Thu nhận ra và gọi aanh bằng ba là lúc anh phải ra đi nhận nhiệm vụ mới.

– Tình huống thứ hai: Anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược bằng ngà cho con gái. Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh.

Đọc tài liệu vừa hướng dẫn các em trả lời câu hỏi bài 1 trang 202 SGK ngữ văn 9 tập 1 với mong muốn giúp các em hiểu bài kỹ hơn, qua đó soạn bài Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) trong chương trình soạn văn 9 được tốt nhất trước khi tới lớp

Giangdh (Tổng hợp)

Soạn Bài Chiếc Lược Ngà Trang 202 Sgk Ngữ Văn 9, Tập 1

Bé Thu và ông Sáu là những nhân vật chính trong phần soạn bài Chiếc lược ngà mà các em học sinh sắp được học tới đây, cùng tìm hiểu các câu hỏi trang 202 SGK Ngữ văn 9, tập 1 để tìm hiểu nội dung chính của câu chuyện xoay quanh hai nhân vật này, bên cạnh đó thấy được cách kể chuyện, cách xây dựng tình huống tài tình của nhà văn Nguyễn Quang Sáng.

1. Soạn bài Chiếc lược ngà, ngắn 1

Chiếc lược ngà (trích)

Câu 1:– Tóm tắt cốt truyện của đoạn trích:Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì sẹo trên mặt làm ba em không còn giống với người trong bức ảnh chụp mà em đã biết. Em đối xử với ba như với người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Ở khu căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Trong một trận càn, ông hi sinh. Trước lúc nhắm mắt, ông còn kịp trao cây lược cho người bạn.– Truyện đã thể hiện tình cha con sâu sắc của hai cha con ông Sáu trong hai tình huống:+ Hai cha con gặp nhau sau tám năm xa cách, nhưng thật trớ trêu là bé Thu không nhận cha, đến lúc em nhận ra và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu lại phải ra đi. Đây là tình huống cơ bản của truyện.+ Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn tất cả tình yêu thương và mong nhớ đứa con vào việc làm cây lược ngà để tặng con, nhưng ông đã hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho con gái.Nếu tình huống thứ nhất bộc lộ tình cảm mãnh liệt của bé Thu với cha, thì tình huống thứ hai lại biểu lộ tình cảm sâu sắc của người cha với đứa con.

Câu 2: Phân tích diễn biến tâm lí, hành động của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng, khi ông Sáu được về phép:– Diễn biến tâm lí, hành động của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng:+ Trước khi nhận ra cha : ngơ ngác, sợ hãi khi mới gặp cha, tròn mắt, lạnh lùng nhìn như người xa lạ, tái mặt chạy đi kêu má. Bướng bỉnh ương ngạnh khi ở nhà với cha.+ Khi nhận ra cha : trằn trọc suy nghĩ khi nghe bà giải thích về vết sẹo. Lúc thấy cha chuẩn bị ra đi, khuôn mặt bé Thu nghĩ ngợi xa xăm, rồi chạy tới ôm cha thắm thiết.– Tính cách bé Thu: Tình cảm mạnh mẽ sâu sắc, rất dứt khoát, rạch ròi. Có nét cá tính cứng cỏi đến ương ngạnh nhưng vẫn là đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ.– Nghệ thuật miêu tả tâm lí : Miêu tả diễn biến tâm lí thành công, từ chỗ Thu ngạc nhiên hoảng sợ đến lạnh lùng, cuối cùng là sự bùng nổ yêu thương do bị dồn nén. Tác giả rất am hiểu tâm lý trẻ em, yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ.

Câu 4 : Nhận xét về nghệ thuật trần thuật của truyện :– Người kể chuyện trong vai một người bạn thân thiết của ông Sáu, không chỉ là người chứngkiến khách quan và kể lại mà còn bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với các nhân vật. Đồng thời qua những ý nghĩ, cảm xúc của nhân vật kể chuyện, các chi tiết, sự việc và nhân vật khác trong truyện bộc lộ rõ hơn, ý nghĩa tư tưởng của truyện thêm sức thuyết phục.

Luyện tập

Câu 1 : – Thái độ của bé Thu lúc ông Sáu mới về và lúc ông ra đi là trái ngược với nhau nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật.– Vì sự nhất quán cao độ trong tính cách của nhân vật nên mới tạo ra sự đối lập ở hai khoảng thời gian khác nhau.– Thu yêu ba, tự hào về ba, khắc ghi hình ảnh ba trong bức tranh khi chụp chung với má. Tình yêu ây sâu sắc, bền vững. Em chỉ yêu người ba trong ảnh. Một người khác bức ảnh lại nhận là ba, Thu kiên quyết không nhận. Thái độ chống đối ngang ngạnh ấy cũng chỉ vì yêu ba (Người ba trong ảnh) về sau khi ngoại nói cho Thu biết vì thằng Mỹ mà ba có vết sẹo trên má, em yêu thương ba hơn và trong tình yêu mãnh liệt, gấp gáp ấy có cả sự ân hận, day dứt. Sự nhất quán trong tính cách nhân vật là ở chỗ đó.

Cảnh ngày xuân là bài học nổi bật trong Bài 6 của chương trình học theo SGK Ngữ Văn 9, học sinh cần Soạn bài Cảnh ngày xuân, đọc trước nội dung, trả lời câu hỏi trong SGK.

2. Soạn bài Chiếc lược ngà, ngắn 2

Tóm tắt: Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm cha không giống trong bức ảnh chụp chung với má. Em đối xử với ba như người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi. Tại khi căn cứ, người cha dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương con vào việc làm chiếc lược bằng ngà voi để tặng cô con gái bé bỏng. Trong một trận càn, ông hy sinh. Trước lúc nhắm mắt ông còn kịp trao cây lược cho người bạn để gửi cho con.

Đọc hiểu văn bảnCâu 1 (trang 202 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):Các tình huống:– Tình huống không chịu nhận ba của bé Thu.– Tình huống anh Sáu hứa sẽ mang về tặng con một cây lược. Những ngày chiến đấu trong rừng, anh Sáu cặm cụi làm chiếc lược ngà cho con gái. Chiếc lược đã làm xong nhưng chưa kịp trao cho con gái thì anh hi sinh.

Câu 2 (trang 202 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):– Diễn biến tâm lí, hành động của bé Thu trong lần gặp cha cuối cùng:+ Trước khi nhận ra cha : ngơ ngác, sợ hãi khi mới gặp cha, tròn mắt, lạnh lùng nhìn như người xa lạ, tái mặt chạy đi kêu má. Bướng bỉnh ương ngạnh khi ở nhà với cha.+ Khi nhận ra cha : trằn trọc suy nghĩ khi nghe bà giải thích về vết sẹo. Lúc thấy cha chuẩn bị ra đi, khuôn mặt bé Thu nghĩ ngợi xa xăm, rồi chạy tới ôm cha thắm thiết.– Tính cách bé Thu: Tình cảm mạnh mẽ sâu sắc, rất dứt khoát, rạch ròi. Có nét cá tính cứng cỏi đến ương ngạnh nhưng vẫn là đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ.– Nghệ thuật miêu tả tâm lí : Miêu tả diễn biến tâm lí thành công, từ chỗ Thu ngạc nhiên hoảng sợ đến lạnh lùng, cuối cùng là sự bùng nổ yêu thương do bị dồn nén. Tác giả rất am hiểu tâm lý trẻ em, yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ.

Luyện tập

Câu 1 (trang 203 sgk Ngữ Văn 9 Tập 1):Bé Thu khi chưa nhận ra cha thì hết sức lạnh lùng, bướng bỉnh. Khi nhận ra cha thì tình cảm như sóng lũ trào dâng. Điều đó thể hiện sự yêu ghét rạch ròi, phân minh, một tính cách bản lĩnh vững vàng của cô bé dù mới tám tuổi.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-chiec-luoc-nga-38886n.aspx Bên cạnh Soạn bài Chiếc lược ngà các em cần tìm hiểu thêm những bài soạn khác trong Ngữ Văn lớp 8 như Soạn bài Kiểm tra phần Tiếng Việt hay phần Soạn bài Kiểm tra về thơ và truyện hiện đại nhằm củng cố kiến thức Ngữ Văn lớp 9 của mình

Bài 1 Trang 29 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1

Trả lời câu hỏi bài 1 trang 29 SGK Ngữ văn lớp 9 tập 1 phần hướng dẫn soạn bài Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh

Tài liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 1 trang 29 SGK Ngữ văn 9 tập 1 phần trả lời câu hỏi luyện tập trên lớp, soạn bài Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh chi tiết và đầy đủ nhất.

Hãy vận dụng yếu tố miêu tả trong việc giới thiệu:

– Con trâu ở làng quê Việt Nam (hình ảnh con trâu trên đồng ruộng, làng quê Việt Nam).

– Con trâu trong công việc làm ruộng (sớm hôm gắn bó với người nông dân).

– Con trâu trong một số lễ hội.

– Con trâu với tuổi thơ ở nông thôn.

Trả lời bài 1 trang 29 SGK Ngữ văn 9 tập 1

– Mở bài: Giới thiệu chung về con trâu trên đồng ruộng Việt Nam

– Thân bài:

+ Con trâu trong nghề làm ruộng

+ Con trâu trong lễ hội, đình đám

+ Con trâu là nguồn cung cấp thực phẩm, nguyên liệu

+ Con trâu là tài sản lớn của người nông dân.

– Kết bài: Con trâu trong cuộc sống tình cảm của người nông dân.

Để soạn bài Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh tối ưu nhất, Đọc Tài Liệu tổng hợp nhiều cách trình bày khác nhau cho nội dung câu hỏi bài 1 trang 29 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1 như sau:

– Hình ảnh con trâu trên đồng ruộng: Con trâu đã gắn bó ngàn đời với người nông dân Việt Nam, trâu giúp người nông dân trong công việc đồng áng. Trâu như người bạn thân thiết của nhà nông. Con trâu với dáng vẻ quen thuộc “Con trâu đi trước, cái cày theo sau”, trâu lầm lũi, gò lưng kéo cày, chân sục dưới bùn, bì bõm dưới nước,…

– Hình ảnh con trâu ở làng quê rất quen thuộc: Sau một ngày lao động, chiều xuống, trâu đủng đỉnh trên đường về làng, với dáng đi khoan thai chậm rãi. Những đàn trâu gặm cỏ bên triền đê. Những ngày mùa, trâu nằm cạnh đông rơm, chậm rãi nhai,… Hình ảnh ấy gợi lên sự yên bình của làng que Việt Nam.

– Con trâu trong một số lễ hội (lẽ hội đâm trâu ở Tây Nguyên, lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn – Hải Phòng và một số tỉnh khác).

– Con trâu với tuổi thơ ở nông thôn:

Hình ảnh trâu đủng đỉnh gặm cỏ trên đồng, trên bãi, ven đê, ven đường làng. Đầm mình trong dòng nước mát trên sông.

Hình ảnh chú bé chăn trâu ngồi trên lưng trâu thổi sáo giữa đồng quê thường được coi là biểu tượng cho cuộc sống thanh bình của đồng quê.

Những kỉ niệm tuổi thơ thường gắn với những trò chơi của trẻ em khi chăn trâu như bắt dế, đánh trận giả, chơi chọi (cỏ) gà,…

– Từ bao đời nay, hình ảnh con trâu lầm lũi kéo cày trên đồng ruộng là hình ảnh quen thuộc, gần gũi đối với người nông dân Việt Nam.

– Ngày ngày, cứ mỗi lần ra đồng, người nông dân thường dắt trâu bên cạnh. Trâu sớm hôm gắn bó với người không khi nào ngơi nghỉ. Hình ảnh con trâu chậm rãi, khoan thai bước đi bên người bất kể nắng mưa gợi nhắc sự thân thuộc, gần gũi giữa trâu với người.

– Con trâu không chỉ kéo cày, kéo xe, cày ruộng mà trâu còn là một trong những nhân vật chính trong Lễ hội chọ trâu ở Đồ Sơn.

– Không một đứa trẻ nào sinh ra ở làng quê Việt Nam mà chưa từng theo đuôi trâu ra đồng. Thi thoảng, chúng còn cưỡi trên lưng trâu thong dong trên khắp đồng cỏ, ngân nga những khúc sáo ru rương

– Con trâu trên đồng ruộng: Trước đây, con trâu là nguồn sức kéo chính giúp người nông dân cày, bừa ruộng lúa. Vào thời vụ, trên cánh đồng, nơi này con trâu cắm cúi gò lưng kéo chiếc cày đang cắm sâu vào đất, nơi kia con trâu xoải bước chân kéo lưỡi bừa đang sục vào bùn.

– Con trâu trong một số lễ hội: Hàng năm vào tháng tư, vùng Đồ Sơn lại mở hội chọi trâu. Trong dân gian có câu ca:

Dù ai buôn đâu bán đâu Mồng mười tháng tám chọi trâu thì về Dù ai buôn bán trăm nghề Mồng mười tháng tám trở (nhớ) về chọi trâu

Đến ngày hội, người ta dẫn ra sân chọi trâu những con trâu đực ra bóng nhẫy, no tròn, đôi sừng cong vút.

– Con trâu với tuổi thơ: Trẻ em ở nông thôn, không em nào không có duyên nợ với con trâu. Khi thì đi cắt cỏ cho trâu, lúc lại dong trâu đi ăn trên cánh đồng. Những lúc cánh đồng gặt xong chưa cày vỡ, đổ ải hoặc trồng hoa màu là lúc trẻ em chăn trâu thích nhất. Lúc đó có thể để trâu tự do ung dung, thanh thản gặm còn mình đi bắt con muồm muỗm, đồ tổ dế..

Các em vừa tham khảo cách trả lời bài 1 trang 29 SGK ngữ văn 9 tập 1 được Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn giúp em ôn tập và soạn bài Luyện tập sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản thuyết minh tốt hơn trước khi đến lớp.

Bài 1 Trang 39 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1

Trả lời câu hỏi bài 1 trang 39 SGK Ngữ văn lớp 9 tập 1 phần hướng dẫn soạn bài Xưng hô trong hội thoại

Hướng dẫn chi tiết trả lời bài 1 trang 39 SGK Ngữ văn lớp 9 tập 1 phần trả lời câu hỏi Luyện tập, soạn bài Xưng hô trong hội thoại ngắn gọn nhất giúp các em chuẩn bị tốt kiến thức trước khi tới lớp.

Có lần, một giáo sư Việt Nam nhận được thư mời dự đám cưới của một nữ học viên người châu Âu đang học tiếng Việt. Trong thư có dòng chữ: “Ngày mai, chúng ta làm lễ thành hôn, mời thầy đến dự”.

Lời mời trên có sự nhầm lẫn trong cách dùng từ như thế nào? Vì sao có sự nhầm lẫn đó?

Trả lời bài 1 trang 39 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Câu trả lời tham khảo

– Lời mời dự đám cưới có dòng chữ “Ngày mai, chúng ta làm lễ thành hôn, mời thầy đến dự” là có sự nhầm lẫn trong cách dùng từ.

– Theo cách nói của các ngôn ngữ Ấn – Âu, cô sinh viên không phân biệt chúng ta (bao gồm cả người nghe) với chúng tôi (không bao gồm người nghe) trong khi người Việt Nam lại có sự phân biệt này. Đây là lỗi dễ măc ở những người châu Âu mới học tiếng Việt do thói quen bản ngữ chi phối.

Khác với tiếng Việt, ngôn ngữ Âu, Mĩ có từ xưng là “we”, nhưng khi dịch ra tiếng Việt, tùy tình huống mà ta cần dịch là chúng tôi hay chúng ta. Bản dịch trong thí dụ này đã dịch sai, thay vì dùng chúng tôi thì họ đã dịch là chúng ta.

– Chúng ta: người nói với người nghe

– Chúng tôi/ chúng em: không gồm người nghe

– Chúng mình: có thể gồm người nghe hoặc không

– Cô học viên nhầm từ xưng hô “chúng ta”, dễ dẫn tới hiểu lầm: cô và giáo sư sẽ làm lễ thành hôn

– Cần thay từ chúng ta bằng từ: chúng em hoặc chúng tôi.

Giangdh (Tổng hợp)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài 1 Trang 202 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!