Đề Xuất 2/2023 # Bài 1 Trang 11 Sgk Ngữ Văn 9 # Top 2 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 2/2023 # Bài 1 Trang 11 Sgk Ngữ Văn 9 # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Bài 1 Trang 11 Sgk Ngữ Văn 9 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đọc Tài Liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 1 trang 11 sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập Hai phần soạn bài Luyện tập phân tích và tổng hợp chi tiết nhất.

Đề bài: Đọc các đoạn trích sau và cho biết tác giả đã vận dụng phép lập luận nào và vận dụng như thế nào.

a) Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài […] không thể tóm tắt thơ được, mà phải đọc lại. Cái thú vị của bài “Thu điếu” ở các điệu xanh: xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi; ở những cử động: chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá đưa vèo, tầng mây lơ lửng, ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động; ở các vần thơ: không phải chỉ giỏi vì là những tử vận hiểm hóc, mà chính hay vì kết hợp với từ, với nghĩa chữ, đến một cách thoải mái đúng chỗ, do một nhà nghệ sĩ cao tay; cả bài thơ không non ép một chữ nào, nhất là hai câu 3, 4:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

đối với:

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Thật tài tình; nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá: vèo, để tương xứng với cái mức độ gợn của sóng: tí.

( Toàn tập Xuân Diệu, tập 6)

b) Mấu chốt của thành đạt là ở đâu? Có người nói thành đạt là do gặp thời, có người lại cho là do hoàn cảnh bức bách, có người cho là do có diều kiện được học tập, có người lại cho là do có tài năng trời cho. Các ý kiến đó mỗi ý chỉ nói tới một nguyên nhân, mà lại đều là nguyên nhân khách quan, họ quên mất nguyên nhân chủ quan của con người.

Thật vậy. Gặp thời tức là gặp may, có cơ hội, nhưng nếu chủ quan không chuẩn bị thì cơ hội cũng sẽ qua đi. Hoàn cảnh bức bách tức là hoàn cảnh khó khăn buộc phải khắc phục. Nhưng gặp hoàn cảnh ấy có người bi quan, thất vọng,chán nản, thối chí; có người lại gồng mình vượt qua. Điều kiện học tập cũng vậy, có người được cha mẹ tạo cho mọi điều kiện thuận lợi, nhưng lại mải chơi, ăn diện, kết quả học tập rất bình thường. Nói tới tài năng thì ai cũng có chút tài, nhưng đó chỉ mới là một khả năng tiềm tàng, nếu không tìm cách phát huy thì nó cũng bị thui chột. Rút cuộc mấu chốt của thành đạt là ở bản thân chủ quan mỗi người, ở tinh thần kiên trì phấn đấu, học tập không mệt mỏi, lại phải trau dồi đạo đức cho tốt đẹp. Không nên quên rằng, thành đạt tức là làm được một cái gì có ích cho mọi người, cho xã hội, được xã hội thừa nhận.

(Nguyên Hưng, Trò chuyện với bạn trẻ)

Trả lời bài 1 trang 11 SGK văn 9 tập 2

Cách trả lời 1:

Phép lập luận được sử dụng trong hai đoạn văn:

– Đoạn (a) : phép phân tích (theo lối diễn dịch) theo trình tự các ý : cái hay ở các điệu xanh → những cử động → ở các vần thơ → ở các chữ không non ép.

– Đoạn (b) : chủ yếu là phép phân tích, kết hợp với tổng hợp. Phân tích các nguyên nhân của sự thành đạt : gặp thời, hoàn cảnh, điều kiện, tài năng.

Cách trả lời 2:

Trong đoạn văn (a), người viết sử dụng phép lập luận phân tích làm sáng rõ cái hay của bài Thu điếu ở mấy điểm.

+ Câu đầu tiên nêu nhận xét khái quát tổng hợp từ nhiều trường hợp cụ thể “thơ hay là hay của hồn lẫn xác… đọc lại”

+ Phân tích cái hay của Thu điếu: các điệu xanh, những cử động, cách dùng từ, gieo vần tự nhiên, không gò ép

+ Trong đoạn văn (b) người viết sử dụng chủ yếu là phép lập luận phân tích, kết hợp tổng hợp

– Trình tự lập luận:

+ Gặp thời: Nếu chủ quan không chuẩn bị thì cơ hội qua đi

+ Hoàn cảnh bức bách: Nhiều người bị hoàn cảnh khó khăn ngã lòng

+ Điều kiện thuận lợi: nhiều người dùng cái thuận lợi để ăn chơi

+ Tài năng: mới chỉ là khả năng tiềm tàng, không tìm cách phát huy bị thui chột

– Tác giả kết luận: Rút cuộc mấu chốt của thành đạt của bản thân là ở chủ quan, tinh thần kiên trì, học tập không mệt mỏi.

Cách trả lời 3:

a) Trong đoạn văn này, Xuân Diệu phân tích cái hay của bài thơ Thu điếu. Tác giả đã sử dụng thao tác tổng hợp và phân tích. Từ cái “hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài”, ông chỉ ra từng cái hay để hợp thành.

– Cái hay ở các điệu xanh

– Ở những cử động

– Ở các vần thơ

– Ở các chữ không non lép.

b) Trình tự phân tích của đoạn văn:

– Đoạn nhỏ mở đầu nêu ra các quan niệm mấu chốt của sự thành đạt.

– Đoạn nhỏ còn lại phân tích từng quan niệm đúng sai ra sao và cuối cùng đã chỉ ra: “Rút cuộc, mấu chốt của sự thành đạt bản thân chủ quan mỗi người, ở tinh thần kiên trì phấn đấu học tập không mệt mỏi, lại phải trau dồi dạo đức cho tốt đẹp” nghĩa là phân tích bản thân chủ quan của mỗi người.

-/-

Chúc các em học tốt !

Tâm Phương (Tổng hợp)

Bài 1 Trang 10 Sgk Ngữ Văn 9

Trả lời câu hỏi bài 1 trang 10 SGK Ngữ văn lớp 9 tập 2 phần hướng dẫn soạn bài Phép phân tích và tổng hợp ngữ văn 9.

Đọc Tài Liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 1 trang 10 sách giáo khoa Ngữ văn 9 tập Hai phần luyện tập soạn bài Phép phân tích và tổng hợp chi tiết nhất.

Trả lời bài 1 trang 10 SGK văn 9 tập 2

Cách trả lời 1:

Phân tích luận điểm Học vấn không chỉ là việc đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn bằng lập luận các lí lẽ:

– Học vấn là thành quả tích lũy của nhân loại được lưu giữ và truyền lại qua sách.

– Muốn tiến lên thì phải nắm vững những học vấn được lưu truyền.

– Nếu xóa bỏ hết cái thành tựu mà nhân loại đã đạt được trong quá khứ thì chúng ta có thể bị lùi lại điểm xuất phát, làm kẻ lạc hậu.

Cách trả lời 2:

Để làm sáng tỏ luận điểm: ” Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách rốt cuộc là một con đường quan trọng của học vấn “, tác giả đã phân tích như sau:

– Nêu ra luận điểm cơ bản làm tiền đế cho lập luận: Học vấn là của nhân loại. Sách là nơi ghi chép và lưu truyền học vấn, kho báu di sản tinh thần của nhân loại.

– Đưa ra giả thiết: Muốn tiến lên phía trước phải đọc sách để chiêm lĩnh thành tựu nhân loại đã đạt trong quá khứ (Câu bắt đầu bằng từ Nếu…).

– Đưa ra giả thiết: Không đọc sách là xóa bỏ thành tựu nhân loại đã đạt được trong quá khứ, sẽ lùi điểm xuất phát hàng nghìn năm (Câu bắt đầu bằng từ Nếu…)

Từ luận điểm cơ bản làm tiền đề cho lập luận và hai giả thiết, tác giả đi đến kết luận: cần đọc sách, đọc sách là sự chuẩn bị để đi trên con đường học vấn. Kết luận này được trình bày trong đoạn tiếp đó.

Cách trả lời 3:

Tác giả đã làm sáng tỏ luận điểm “Học vấn không chỉ là chuyện đọc sách, nhưng đọc sách vẫn là một con đường quan trọng của học vấn” bằng cách phân tích:

– Học vấn là việc của toàn nhân loại nói chung.

– Học vấn của nhân loại đều được lưu truyền, tích lũy trong sách vở.

– Sách vở chính là cuốn bách khoa toàn thư, là kho tàng tri thức khổng lồ.

– Nếu xóa bỏ thành quả của nhân loại thì loài người sẽ trở về thời điểm khởi thủy, mới lạ với tất cả những hiện tượng của tự nhiên, xã hội.

– Phân tích mối quan hệ giữa học vấn- nhân loại – sách vở.

– Đưa ra các biện pháp đọc sách cho hiệu quả.

Tham khảo: Nghị luận bàn về một phương pháp đọc sách đúng đắn

-/-

Chúc các em học tốt !

Bài 1 Trang 96 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1

Tài liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 1 trang 96 SGK Ngữ văn 9 tập 1 phần trả lời câu hỏi luyện tập, soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích chi tiết và đầy đủ nhất.

Thế nào là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình? Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối.

Trả lời bài 1 trang 96 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Để soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích tối ưu nhất, Đọc Tài Liệu tổng hợp nhiều cách trình bày khác nhau cho nội dung câu hỏi bài 1 trang 96 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1 như sau:

Bút pháp tả cảnh ngụ tình:

Là bút pháp thông qua việc miêu tả cảnh vật (thiên nhiên, cuộc sống xung quanh) để khắc họa tâm trạng, cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật trữ tình.

Cùng với bút pháp chấm phá, bút pháp ước lệ tượng trưng, bút pháp đòn bẩy, lấy tĩnh tả động, lấy động tả tĩnh…đây là một trong những bút pháp đặc trưng, mang đậm dấu ấn của văn học trung đại. Cũng có thể nói, bút pháp tả cảnh ngụ tình là một yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công cho tác phẩm truyện Kiều của Nguyễn Du.

Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình qua tám câu thơ cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (trích Truyện Kiều của Nguyễn Du)

Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa Buồn trông ngọn nước mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu Buồn trông nội cỏ rầu rầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi

Hai cầu đầu:

Tả cảnh: Những con thuyền với cánh buồm no căng gió tấp nập qua lại ở cửa biển, dưới chân lầu Ngưng Bích, nơi Kiều bị giam lỏng. Cửa biển thuyền qua, thuyền lại như mắc cửi, những cánh buồm được giương lên cao, gió thổi căng phồng đưa con thuyền lướt trên mặt biền, trong chốc lát đã đi ra xa, cánh buồm chỉ còn thấp thoáng, lúc ẩn, lúc hiện.

Tả tình: Nỗi buồn thương, nỗi nhớ nhà và khao khát được trở về nhà của Kiều. Giờ nàng đã bán thân để cứu cha và em, cũng đã rơi vào tay của những kẻ buôn người, không biết đến bao giờ nàng mới có cơ hội để trở về nhà gặp lại cha mẹ, gặp lại các em, gặp lại cả Kim Trọng – mối tình đầu khắc cốt ghi tâm của mình. Càng nhìn cánh buồm thấp thoáng phía xa cuối tận chân trời, Kiều càng mong mỏi ngày trở về.

Hai câu tiếp:

Tả cảnh: Hình ảnh của dòng nước đổ từ trên cao xuống dưới thấp hay đúng hơn là thác nước tuyệt đẹp như bay từ trên cao sà xuống mặt đất. Theo dòng nước ấy là những cánh hoa trôi từ phía thượng nguồn đổ về.

Tả tình: Kiều xót thương cho số phận của mình. Nàng nghĩ mình cũng giống như những cánh hoa kia, đẹp đấy, ngát hương và tài năng đấy nhưng dòng nước dữ dội kia – chính là dòng đời, không biết sẽ mang theo nàng về nơi nào. Bởi lẽ, cuộc đời của nàng bây giờ không còn được quyết định bởi nàng nữa, nó phụ thuộc vào những kẻ buôn người, là Tú Bà, là Mã GIám Sinh.

Hai câu tiếp

Tả cảnh: Cánh đồng cỏ ngút ngàn trải dài đến tận cuối con đường nhưng không còn là đồng cỏ tràn đầy sức sống như trong tiết thanh minh “cỏ non xanh tận chân trời” nữa, mà thay vào đó là một đồng cỏ đang ở độ úa tàn khi tiết trời đang chuyển dần từ thu sang đông.

Tả tình: Nỗi buồn rầu, đau khổ của Kiều khi biết mình bị lừa bán vào tay những kẻ buôn người. Nỗi sầu ấy thấm vào cảnh vật khiến chúng cũng trở nên tàn tạ, héo úa.

Hai câu cuối:

Tả cảnh: Những con gió lớn làm cuộn dòng nước tạo thành những con sóng liên tiếp nhau tấp vào bờ khiến Kiều cảm giác như những con sóng dữ dội ấy đang vỗ mạnh vào ghế, nơi nàng đang ngồi nhìn ngắm cảnh vật xung quanh.

Tả tình: Sự lo lắng cho thân phận của mình trước những sóng gió của cuộc đời đang chuẩn bị ập đến với nàng mà không một lời dự báo trước. Nàng thấp thỏm không yên khi nghĩ đến tương lai, những ngày tháng sau này nàng không biết sẽ có điều gì đón đợi mình ở đó. Chỉ mong được bình yên.

– Tả cảnh ngụ tình là một bút pháp đặc trưng của văn học trung đại nói chung, của ngòi bút Nguyễn Du nói riêng với cơ chế là tả cảnh thông qua đó để bộc lộ tâm trạng con người, tả cảnh để nói tình chứ không chỉ là bức tranh tả cảnh thuần túy.

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong tám câu thơ cuối. Toàn bộ tám câu thơ đều nhằm khắc họa tâm trạng lạc lõng, cô đơn, đầy âu lo của Thúy Kiều về số phận của chính mình.

– Trong đoạn đầu, tác giả lấy cảnh thiên nhiên làm nền cho hoạt động nội tâm của nhân vật.

– Trong đoạn cuối, dùng những hình ảnh so sánh, ẩn dụ với thiên nhiên để biểu hiện phong phú sắc thái nội tâm của nhân vật.

b) Sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo

– Vận dụng nhuần nhị những thị liệu, điển cố: tin sương, người tựa cửa, quạt nồng ấp lạnh, sân Lai, gốc tử.

– Ngôn ngữ tinh tế (bẽ bàng), đầy màu sắc (cát vàng, bụi hồng), âm thanh đầm ấm).

– Điệp từ và từ láy có giá trị biểu cảm cao: bát ngát, thấp thoáng, man mác, rầu rầu. Cụm từ “buồn trông mở đầu câu thơ sáu chữ, tạo âm hưởng trầm buồn. “Buồn trông đã trở thành điệp khúc của đoạn thơ và cũng là điệp khúc của tâm trạng.

Hay

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là mượn cảnh vật để (ngụ) gửi gắm tâm trạng. Cảnh không đơn thuần chỉ là cảnh mà còn là tâm trạng con người. Lấy cảnh làm phương tiện thể hiện tâm trạng.

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong 8 câu cuối :

Cánh buồm nhỏ xa xăm vô định như cuộc đời nàng giữa biển đời vô hướng.

Cánh hoa bị vùi dập như số kiếp trôi nổi của nàng.

Nội cỏ rầu rầu một màu đơn điệu như màu sắc cuộc đời nàng tẻ nhạt.

Gió cuốn, sóng ầm ầm chính là dông bể cuộc đời, một nỗi bàng hoàng lo sợ.

Các em vừa tham khảo cách trả lời bài 1 trang 96 SGK ngữ văn 9 tập 1 được Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn giúp em ôn tập và soạn bài Kiều ở lầu Ngưng Bích tốt hơn trước khi đến lớp.

Bài 1 Trang 203 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1

Trả lời câu hỏi bài 1 trang 203 SGK Ngữ văn lớp 9 tập 1 phần hướng dẫn soạn bài Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng)

Tài liệu hướng dẫn trả lời câu hỏi bài 1 trang 203 SGK Ngữ văn 9 tập 1 phần trả lời câu hỏi luyện tập, soạn bài Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) chi tiết và đầy đủ nhất.

Thái độ và hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi, nhưng vẫn nhất quán trong tính cách của nhân vật. Em hãy giải thích điều đó.

Trả lời bài 1 trang 203 SGK Ngữ văn 9 tập 1

Để soạn bài Soạn bài Kiểm tra về chuyện trung đại tối ưu nhất, Đọc Tài Liệu tổng hợp nhiều cách trình bày khác nhau cho nội dung câu hỏi bài 1 trang 203 sgk ngữ văn lớp 9 tập 1 như sau:

– Tuy hành động của bé Thu đối với ba rất trái ngược nhưng lại rất nhất quán, điểm nhất quán đó chính là tình yêu thương của bé Thu dành cho ba mình.

– Trong những ngày đầu, bé Thu kiên quyết không nhận ông Sáu, vùng vằng với ông bởi bé Thu thấy ông Sáu không giống với hình ảnh người ba lâu nay in hằn trong trí nhớ của bé từ tấm ảnh chụp chung với má ➜ bé Thu luôn mong nhớ ba, ghi nhớ hình ảnh của ba trong trái tim.

Hành động trái ngược của bé Thu trong những ngày đầu khi ông Sáu về thăm nhà và lúc ông sắp ra đi được thể hiện:

Khi ông Sáu bồi hồi nhận con thì bé Thu lại tròn mắt ngơ ngác lạ lùng. Bé ngạc nhiên, sợ hãi vì người đàn ông lạ mặt ôm và tự nhận là ba của bé. Vết sẹo dài trên mặt ông Sáu vì xúc động mà đỏ ứng, giật giật khiến cho bé Thu sợ hãi, khóc và chạy về nhà. Khi nhận ra ba thì tình cảm trào dâng, Thu nhất quyết không cho ba đi

Hai hành động trái ngược đó thể hiện sự yêu ghét rạch ròi phân minh, một tính cách bản lĩnh vững vàng của cô bé dù chỉ mới tám tuổi. Điều nhất quán trong tính cách nhân vật đó là tình yêu dành cho ba của Thu, cô bé yêu ba, tự hào về ba, khắc ghi hình ảnh của ba trong bức tranh khi chụp chung với má. Em chỉ yêu người ba trong ảnh. Vì vậy, khi nhìn thấy ông Sáu ngoài đời thực khác xa bức ảnh, em đã kiên quyết không nhận. Khi bà ngoại nói cho Thu biết vì thằng Mỹ mà ba có vết thẹo trên má, em yêu thương ba hơn và trong tình yêu mãnh liệt, gấp gáp ấy co cả sự ân hận day dứt.

– Lúc đầu, bé Thu thật bướng bỉnh, ương ngạnh.

– Sự ương ngạnh của bé Thu hoàn toàn không đáng trách.

– Nó còn quá nhỏ để có thể hiểu được những tình thế éo le, khắc nghiệt

– Lí do nó không nhận cha thật đơn giản, trẻ con, bất ngờ mà hợp lí.

– Khi chia tay em khóc vì thương cha, vì ân hận đã không phải với cha, vì không biết đến bao giờ mới được gặp lại cha.

– Lúc này tất cả hành động của Thu đều dồn dập, gấp gáp, trái hẳn lúc đầu.

– Trong tâm hồn cô bé, tình yêu với cha có cả niềm tự hào, niềm kiêu hãnh vì có người cha chiến sĩ.

Đọc tài liệu vừa hướng dẫn các em trả lời câu hỏi bài 1 trang 203 SGK ngữ văn 9 tập 1 với mong muốn giúp các em hiểu bài kỹ hơn, qua đó soạn bài Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng) trong chương trình soạn văn 9 được tốt nhất trước khi tới lớp

Giangdh (Tổng hợp)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Bài 1 Trang 11 Sgk Ngữ Văn 9 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!