Đề Xuất 12/2022 # 3 Hiểu Lầm Phổ Biến Trong Giáo Dục Song Ngữ Ở Trẻ / 2023 # Top 16 Like | Techcombanktower.com

Đề Xuất 12/2022 # 3 Hiểu Lầm Phổ Biến Trong Giáo Dục Song Ngữ Ở Trẻ / 2023 # Top 16 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về 3 Hiểu Lầm Phổ Biến Trong Giáo Dục Song Ngữ Ở Trẻ / 2023 mới nhất trên website Techcombanktower.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Học song ngữ làm trẻ bị rối loạn ngôn ngữ.

Một trong những lo lắng lớn nhất của phụ huynh về việc xây dựng môi trường song ngữ ở nhà là dễ khiến bé bị rối loạn ngôn ngữ. Tuy nhiên chưa có một dẫn chứng khoa học nào khẳng định điều này. Một trong những hành vi dễ dẫn đến sự nhầm lẫn này đó là khi trẻ trộn lẫn 2 ngôn ngữ vào cùng 1 câu. Lý do đầu tiền trẻ làm việc này đó là vì việc trộn lẫn ngôn ngữ cũng diễn ra khá thường xuyên trong cộng đồng con sống và trẻ chỉ đơn giản bắt chước người lớn. Lý do thứ 2 thì cũng giống như những đứa trẻ học đơn ngữ khác, đó là trẻ em không có quá nhiều vốn từ. Bởi vậy khi trẻ không biết hoặc không thể nhớ ra ngay một từ ở ngôn ngữ này thì sẽ ngay lập từ mượn từ khác ở ngôn ngữ khác để diễn tả. Nói tóm lại, việc trộn lẫn không phải là dấu hiệu của sự rối loạn, nhầm lẫn mà chỉ đơn giản là một giai đoạn tất yếu trong tiến trình học song ngữ, thậm chí còn là dấu hiệu của sự khéo léo ở trẻ. Hơn nữa, trẻ em học song ngữ không dùng ngôn ngữ một cách vô căn cứ. Bởi một đứa trẻ 2 tuổi đã có khả năng điều chỉnh ngôn ngữ dựa theo đối phương trong cuộc trò chuyện và còn biết tuân thủ những quy tắc ngữ pháp mà người lớn vẫn thường sử dụng.

Khoa học cũng chỉ ra rằng trẻ em học song ngữ còn có khả năng phân biệt ngôn ngữ tốt hơn. Trẻ sơ sinh phân biệt được các ngôn ngữ khác nhau thông qua âm điệu, vậy nên các bé được tiếp xúc với song ngữ còn nhạy cảm với ngôn ngữ hơn trẻ chỉ học 1 ngôn ngữ. Nghiên cứu mới đây cũng cho rằng 1 đứa trẻ 4 tháng tuổi dù học đơn ngữ hay song ngữ cũng có thể phân biệt những cuộc nói chuyện không phát ra tiếng ở những ngôn ngữ khác nhau. Thế nhưng khi đến 8 tháng tuổi, chỉ có trẻ học song ngữ mới nhạy bén hơn với việc này, còn trẻ học đơn ngữ lại khó tập trung vào các chuyển động khuôn mặt.

Chỉ có học song ngữ mới giúp trẻ phát triển nhận thức tốt hơn

Không ai có thể phủ nhận được những lợi ích của việc học song ngữ trong đời sống. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc học song ngữ nâng cao khả năng thấu hiểu xã hội của trẻ. Bởi trẻ phải rất linh động trong việc giao tiếp khi những người nói ngôn ngữ khác nhau lại có nhiều đặc điểm xã hội khác nhau nên từ đó sẽ học cách thấu hiểu quan điểm, suy nghĩ, nguyện vọng hay ý định của người khác từ nhiều góc độ khác nhau.

Song ngữ cũng cho thấy một số lợi thế về nhận thức. Cụ thể, trẻ học song ngữ dường như thực hiện các nhiệm vụ chuyển giao giữa việc này và việc kia tốt hơn trẻ chỉ học đơn ngữ. Ngoài ra, còn có bằng chứng khoa học cho thấy trẻ sơ sinh học song ngữ được ưu tiên ở một số khía cạnh nhất định của bộ nhớ, chẳng hạn như khả năng khái quát thông tin từ sự kiện này đến sự kiện khác. Nghiên cứu chưa thể xác định chính xác những lợi thế này phát sinh từ đâu tuy nhiên khả năng cao là do việc thường xuyên chuyển đổi qua lại giữa các ngôn ngữ như vậy giúp bộ não trẻ được rèn luyện. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là song ngữ không phải là trải nghiệm duy nhất giúp trẻ phát triển nhận thức. Những đứa trẻ học đơn ngữ nhưng học tiếp xúc về âm nhạc từ sớm cũng có thể sở hữu lợi thế này.

“Một người chỉ nói một ngôn ngữ” 

Trẻ học ngôn ngữ chủ yếu qua nghe và tương tác với nhiều đối tượng khác nhau để có đủ sự tiếp xúc với âm thành, từ vựng và ngữ pháp. Nếu như vậy thì chất lượng lẫn số lượng mới là điều quan trọng nhất.

Về chất lượng, tiếp xúc với ngôn ngữ chất lượng cao đồng nghĩa với nhiều tương tác xã hội hơn là xem ti-vi nhiều hơn bởi nó sẽ cung cấp cho trẻ vốn từ vựng phong phú hơn. Còn số lượng thì có thể được đo lường bởi số từ mà trẻ nghe thấy mỗi ngày đối với từng ngôn ngữ. Nói một cách khác, để trẻ phát triển 2 ngôn ngữ một cách đồng đều thì tần số tiếp xúc của cả 2 ngôn ngữ cũng phải giống nhau. Vậy nên phương pháp “một người một ngôn ngữ” sẽ hiệu quả nếu cả bố lẫn mẹ dành thời gian cho con tiếp xúc với từng ngôn ngữ bằng nhau. Thế nhưng chẳng hạn như con chỉ nói tiếng Việt vào những dịp về thăm ông bà hay nói tiếng Anh khi đến lớp ngoại ngữ thì bố mẹ sẽ nhìn thấy độ lệch rõ rệt ở khả năng của trẻ trong từng ngôn ngữ. Tuy nhiên thực tế sự cân bằng tuyệt đối rất khó để đạt được bởi khi trẻ càng lớn chúng càng biết cách phân loại ngôn ngữ chính và ngôn ngữ phụ phụ thuộc vào môi trường sống. Chính vì lẽ đó mà các chuyên gia khuyến khích bố mẹ tập trung đầu tư cho ngôn ngữ phụ từ sớm trước khi trẻ có khả năng làm điều này. Nói tóm lại, bố mẹ có thể linh hoạt trong việc chọn phương pháp dạy song ngữ cho con nhưng hãy luôn nhớ một nguyên tắc đó là “chất lượng cao – số lượng cao”.

Nguồn: Raised Happy

6 Cách Nghĩ Sai Lầm Phổ Biến Về Kem Chống Nắng / 2023

Các tia nắng có thể tấn công da gây ung thư. Để đối phó, nhiều người sử dụng . Tuy nhiên, không ít người tiêu dùng vẫn quan niệm sai về sản phẩm này

SAI – đúng là các chất chống nắng đều ngăn chặn được tia tử ngoại A (UVA) và B (UVB) của mặt trời (tia tử ngoại C không đến được mặt đất), nhưng chất chống nắng được chia thành hai nhóm tuỳ theo tác dụng của chúng:

1) Nhóm tác dụng vật lý: phản chiếu hoặc phân tán tia UV trước khi nó có thể xâm nhập vào da.

2) Nhóm tác dụng hoá học: hấp thu tia UV trước khi nó có thể gây tổn thương da.

Nhìn chung, sử dụng chất chống nắng nhóm nào cũng được, nhưng trong một số trường hợp thì cần dùng đúng, chẳng hạn để bảo vệ vùng da quanh lỗ tai và quanh mắt, sử dụng chất chống nắng dạng vật lý thích hợp hơn.

SAI – không có loại chất chống nắng nào có thể ngăn chặn được 100‰ tia UV. Đó là chưa kể tác dụng bảo vệ của chất chống nắng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như số lượng và cách thoa lên da, dạng sử dụng, độ ẩm của da, sự tiếp xúc vùng da với nước,… Để bảo vệ da tốt nhất, nên:

– Che chắn da bằng cách mặc áo tay dài, đeo găng tay, khẩu trang, đội nón rộng vành, đeo kính mát màu đậm có kiểu ôm kín cả chân mày và đuôi mắt.

– Sử dụng chất chống nắng thường xuyên với số lượng đầy đủ, trước khi ra ngoài trời 30 phút (để chất chống nắng thẩm thấu vào da và tạo ra bức tường bảo vệ) và thực hiện lại sau mỗi hai giờ hay khi thấy cần thiết.

Cần sử dụng chất chống nắng ngay cả khi trời râm mát, có mây vì lúc này tia UV vẫn có thể đi xuyên qua mây xuống mặt đất. Nếu cần ra nắng ngay, thay vì thoa chất chống nắng bạn nên thoa sản phẩm có oxit kẽm.

3. Chất chống nắng không có tác dụng phụ

SAI – chất chống nắng có thể gây ra một số tác dụng phụ như mụn, đỏ da, phát ban ngoài da, bóng nước, cảm giác châm chích… Những biểu hiện này sẽ biến mất sau khi ngưng sử dụng nên không cần điều trị. Ngược lại, cho đến nay không có nghiên cứu nào chứng minh chất chống nắng gây ra lão hoá da, sinh ung thư.

SAI – trẻ em trên 6 tháng tuổi là phải sử dụng chất chống nắng và sử dụng tích cực hơn người lớn vì hệ thống da của chúng chưa hoàn thiện, rất nhạy cảm với ánh nắng mặt trời. Tuy nhiên, cần tránh sử dụng cho trẻ những chất chống nắng có thành phần cồn (vì có thể làm trẻ say!).

5. Không cần lưu ý gì khi sử dụng chất chống nắng ở người già

SAI – nếu sử dụng chất chống nắng ở người già phải lưu ý đến yếu tố calcium vì chất chống nắng có thể ngăn chặn vitamin D trong ánh nắng hấp thu vào da, mà vitamin D là thành phần cần thiết để xây dựng bộ xương khoẻ mạnh. Trong khi đó, ở người già tình trạng loãng xương lại hết sức phổ biến.

6. Chất chống nắng chỉ có một dạng duy nhất là kem?

Do ở Việt Nam chất chống nắng (sunscreen) phổ biến dưới dạng kem, nên nhiều người nghĩ rằng nó chỉ có một dạng duy nhất là kem. Trong thực tế, chất chống nắng có nhiều dạng khác nhau như dung dịch, gel, thuốc mỡ, miếng dán, dầu, thậm chí là dạng xịt (spray). Sự chọn lựa dạng này hay dạng khác tuỳ theo sở thích, thói quen và tình trạng da của mỗi người.

Thời điểm cần cảnh giác nhất là lúc nắng cao điểm, từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều, vì lúc này cường độ tia UV mạnh nhất. Chất chống nắng hết sức cần thiết với người làm việc ở độ cao, công nhân xây dựng, cầu đường, người chơi thể thao ngoài trời (tennis, golf, bơi lội… ). Lúc này làn da sẽ thính hợp hơn với những loại kem chống nắng có chỉ số SPF cao, có thể lên đến 90 SPF như kem . Những loại kem chống nắng như thế này sẽ có tác dụng bảo vệ da tốt hơn và khả năng ngăn ung thư da cũng cao hơn

5 Sai Lầm Phổ Biến Mà Người Mới Tập Mma Nên Tránh / 2023

Đâu là những sai lầm phổ biến mà người mới tập MMA thường mắc phải? Có cách nào để tránh được những sai lầm này hay không?

Chỉ mới xuất hiện tại Việt Nam vài năm, nhưng võ tổng hợp MMA tạo ra một sức hút khá lớn, đón nhận nhiều bạn trẻ tham gia tập luyện. Nếu như đầu những năm 2010, hầu như không có sự hiện diện của các phòng tập MMA nào trên phạm vi cả nước thì đến nay đã có không ít bạn trẻ tự tin cho biết họ đang tập luyện môn võ thuật đối kháng hiện đại bậc nhất thế giới.

1. Tập nhiều môn võ thì tự động sẽ giỏi MMA?

MMA bao hàm đủ loại chiêu thức từ nhiều môn võ khác nhau, chủ yếu được chia làm 3 thành phần:

+ Đánh đứng (Striking): bao gồm những đòn đấm, đá từ Muay Thái, quyền Anh, Karate, Taekwondo, Tán thủ, Pencak Silat, Thiếu Lâm, Vịnh Xuân,…

+ Vật (Wrestling): gồm những cách kềm chế đối phương bằng nắm, kéo, đè, nhưng không được trực tiếp đấm đá như vật Greco-Roman, vật tự do (Freestyle wrestling),…

+ Khóa siết (Grappling): gồm những cách khống chế đối thủ bằng cách quật ngã xuống sàn (takedown), thay đổi vị trí trên-dưới (transition), khóa (clinch), siết (submission hold) như Brazilian Jiu-jitsu, Judo,…

Khái niệm “võ tổng hợp” khiến nhiều người nghĩ đơn giản rằng một người đã có căn bản từ nhiều môn võ khác nhau, như một bạn trẻ từng tập Thiếu Lâm, Karate, và võ vẽ được vài cước Taekwondo chẳng hạn, là mặc nhiên sẽ thông hiểu MMA.

Trên thực tế, đây là một quan niệm sai lầm. Với kinh nghiệm võ thuật phía trước, bạn trẻ ấy quả thật có tiền vốn trong những pha đánh đứng Striking. Tuy nhiên, MMA không chỉ bao gồm đánh đứng, mà còn cả kỹ thuật vật và khóa siết nữa.

Cũng cần nói thêm rằng võ sĩ không phải chỉ học hai, ba môn võ bất kỳ là đánh MMA được, mà buộc phải tập luyện cả những thành phần kể trên, kèm theo các bài tập thể lực.

2. Lơ là các kỹ thuật địa chiến

Sai lầm đầu tiên thường sẽ dẫn đến sai lầm thứ hai. Điều này không đáng trách, khi mà khái niệm MMA và địa chiến còn là những khái niệm rất mới trong làng võ Việt Nam. Bản thân những cú đấm hay những pha trao đổi đòn cũng có vẻ bắt mắt hơn, nhanh hơn, mạnh hơn, thu hút sự chú ý hơn các kỹ thuật địa chiến.

Nhưng chỉ chăm chăm vào tập đấm, tập đá, tập di chuyển mà bỏ qua hẳn thành phần vật – khóa siết thì là một sai lầm rất lớn.

“Dưới mặt đất, các võ sĩ đánh đứng hoàn toàn bất lực. Cú đá không còn sử dụng được, cú đấm – ở tư thế nằm dưới không có lực hông tiếp sức – trở nên yếu ớt và nhanh chóng bị các võ sĩ Brazilian Jiu-jitsu kết thúc bằng những đòn khóa siết,” Anh Trần Đoàn Linh, một trong những người tiên phong về Brazilian Jiu-jitsu tại Hà Nội từng chia sẻ.

“Các võ sĩ quen thuộc Brazilian Jiu-jitsu có thể chủ động kéo đối phương xuống đất để bắt đầu một trận địa chiến với khả năng chiến thắng rất lớn. Ngược lại, các võ sĩ đánh đứng lại không thể xốc nách bắt đối thủ đứng lên để đấu bằng những đòn đấm đá.”

Đó là lý do mà những người mới tập MMA không nên lơ là các kỹ thuật địa chiến. Kể cả những võ sĩ nổi tiếng đánh đứng trên võ đài như Conor McGregor hay Martin Nguyễn cũng vẫn tập khóa siết đều đặn như một phần tất yếu trong khóa tập huấn của họ.

3. Bỏ qua các bài tập Gym – tập tạ

Vẫn còn một quan niệm rất phổ biến trong giới võ rằng “tập Gym, tập tạ gây cứng cơ, cứng người”, khiến người tập e sợ rằng tập gym, tập tạ thì sẽ khiến mình bị chậm đi, kém linh hoạt hơn khi tập võ tổng hợp.

Điều này không giải thích được tại sao trên thực tế, tất cả các võ sĩ đều tập Gym, thậm chí còn tập rất nặng để tăng cường thể lực. Những Mike Tyson, Buakaw, Conor McGregor, Jon Jones… vẫn tập thể hình đều đặn, có cơ thể săn chắc, cơ bắp cuồn cuộn nhưng những pha ra đòn vẫn chớp nhoáng, nhanh gọn chứ không hề bị “cứng cơ”.

Vậy vấn đề nằm ở đâu?

Video Jon Jones tập Powerlifting:

Việc tập gym theo kiểu body building, cụ thể là các bài tập chỉ để phát triển kích cỡ cơ bắp, có ảnh hưởng một phần tới võ vì nó chủ yếu phát triển nhóm cơ chậm, sức mạnh. Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến các cơ nhanh, trong khi tập võ vẫn cần tốc độ cùng với sự dẻo dai khéo léo.

Trừ phần đó, các bài tập khác như Powerlifting (tập tạ) để tăng sức mạnh và khối cơ; Weightlifting (nâng vật nặng) tăng sức mạnh và tốc độ cho cơ; Fitness vừa cung cấp sức bền, sự dẻo dai và khả năng bung sức là những bài tập rất tuyệt vời cho người học võ. Ngắn gọn lại, trong phạm vi luyện tập để khỏe hay tự vệ thì những bài tập Gym chẳng có hại gì.

4. Dậm chân tại chỗ

Sau những tuần đầu bước vào việc luyện võ, có rất nhiều lý do khiến người tập chững lại và dậm chân tại chỗ. Sợ gặp chấn thương. Sợ mệt. Sợ không tập được các kỹ thuật khó. Sợ “ăn hành” khi bước vào sân chơi lớn hơn.

Dậm chân tại chỗ có vẻ không phải là điều gì nguy hiểm, nhưng điều này sẽ khiến người tập không bao giờ tiến bộ. Dần dần, họ sẽ mất dần mục tiêu tập luyện và “trượt” khỏi phòng tập từ lúc nào chẳng hay.

Cách duy nhất để cải thiện vấn đề này là thay đổi bản thân mình. Liên tục đặt ra những mục tiêu cụ thể, ngắn hạn cho bản thân để tiếp tục cố gắng. Chịu khó đối luyện với thầy, với các bạn tập có trình độ cao hơn. Tìm kiếm những người bạn tập tích cực. Đừng sợ hãi, hãy thách thức bản thân mình thật nhiều để loại bỏ được các rào cản trên con đường luyện tập.

5. Quá nóng vội

Ngược lại với tuýp “dậm chân tại chỗ” là kiểu luyện tập kỳ vọng quá cao vào bản thân.

Không thiếu các bạn trẻ đổ mồ hôi sôi nước mắt, tập hùng hục như trâu húc mả, luôn hy vọng vào việc “hôm nay tôi đã tiến bộ thấy rõ so với hôm qua”, tuân thủ chế độ ăn nghiêm ngặt và yêu cầu thật khắc nghiệt với bản thân.

Quả thât, một võ sĩ chuyên nghiệp, ví dụ như Georges St-Pierre, có những yêu cầu cực kỳ hà khắc với bản thân. Lượng ăn của GSP được tính bằng cốc đo. Anh tập 3 ca mỗi ngày, từ sáng đến đêm, với những bài tập thể lực khắc nghiệt bậc nhất.

Nhưng tiêu chuẩn phù hợp với St-Pierre chắc chắn không phù hợp với một người mới tập MMA được một hai tháng. Tập luyện quá dày, quá nặng ở thời điểm quá sớm sẽ chỉ dẫn đến chấn thương, mà điều này đôi khi sẽ đánh mất cả tương lai của người tập.

Vậy làm thế nào để biết liệu mình có đang tập quá sức? Người tập có thể theo dõi nhịp tim của bản thân ở một thời điểm nghỉ ngơi cố định trong ngày. Mức tăng 10 nhịp trên phút hoặc lớn hơn chứng minh rằng ngày hôm đó đã tập quá nặng. Không chỉ vậy, cũng nên dành thời gian nghỉ khi cảm thấy mình có sức ép tâm lý về việc tập võ.

Huấn luyện viên MMA nổi tiếng Javier Mendez – HLV của những võ sĩ UFC như Daniel Cormier, Khabib Nurmagomedov – nhận định rằng trong một, thậm chí đến 2 năm đầu tập MMA, các bạn trẻ không cần thiết phải vội vàng.

“Điều quan trọng nhất là giữ mình ở thể trạng tốt và tập luyện thường xuyên,” Mendez nói. “Rồi điều gì phải đến cũng sẽ đến thôi.”

Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Môn Tin Học / 2023

Lộ trình dạy môn tin học theo chương trình giáo dục phổ thông mới

Chương trình giáo dục phổ thông môn tin học mới

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MÔN TIN HỌC

(Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐTngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

MỤC LỤC

I. ĐẶC ĐIỂM MÔN HỌC……………………………………………………………………………………………. 3

II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH …………………………………………………………….4

III. MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH………………………………………………………………………………… 6

IV. YÊU CẦU CẦN ĐẠT ……………………………………………………………………………………………. 8

V. NỘI DUNG GIÁO DỤC………………………………………………………………………………………….14

LỚP 3 …………………………………………………………………………………………………………………….18

LỚP 4 …………………………………………………………………………………………………………………….22

LỚP 5 …………………………………………………………………………………………………………………….25

LỚP 6 …………………………………………………………………………………………………………………….29

LỚP 7 …………………………………………………………………………………………………………………….32

LỚP 8 …………………………………………………………………………………………………………………….34

LỚP 9 …………………………………………………………………………………………………………………….37

LỚP 10 …………………………………………………………………………………………………………………..42

LỚP 11 …………………………………………………………………………………………………………………..46

LỚP 12 …………………………………………………………………………………………………………………..51

VI. PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC…………………………………………………………………………………63

VII. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO DỤC………………………………………………………………………….65

VIII. GIẢI THÍCH VÀ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH……………………………….66

Nội dung chương trình giáo dục phổ thông 2018 môn tin học

I. ĐẶC ĐIỂM MÔN HỌC

Giáo dục tin học đóng vai trò chủ đạo trong việc chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm kiếm, tiếp nhận, mở rộng tri thức và sáng tạo trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư và toàn cầu hoá. Tin học có ảnh hưởng lớn đến cách sống, cách suy nghĩ và hành động của con người, là công cụ hiệu quả hỗ trợ biến việc học thành tự học suốt đời.

Môn Tin học giúp học sinh thích ứng và hoà nhập được với xã hội hiện đại, hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tin học để học tập, làm việc và nâng cao chất lượng cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nội dung môn Tin học phát triển ba mạch kiến thức hoà quyện: Học vấn số hoá phổ thông (DL), Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), Khoa học máy tính (CS) và được phân chia theo hai giai đoạn:

– Giai đoạn giáo dục cơ bản:

Môn Tin học giúp học sinh hình thành và phát triển khả năng sử dụng công cụ kĩ thuật số, làm quen và sử dụng Internet; bước đầu hình thành và phát triển tư duy giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của máy tính và hệ thống máy tính; hiểu và tuân theo các nguyên tắc cơ bản trong trao đổi và chia sẻ thông tin.

Ở cấp tiểu học, chủ yếu học sinh học sử dụng các phần mềm đơn giản hỗ trợ học tập và sử dụng thiết bị tin học tuân theo các nguyên tắc giữ gìn sức khoẻ, đồng thời bước đầu được hình thành tư duy giải quyết vấn đề có sự hỗ trợ của máy tính.

Ở cấp trung học cơ sở, học sinh học cách sử dụng, khai thác các phần mềm thông dụng để làm ra sản phẩm số phục vụ học tập và đời sống; thực hành phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của công cụ và các hệ thống tự động hoá của công nghệ kĩ thuật số; học cách tổ chức lưu trữ, quản lí, tra cứu và tìm kiếm dữ liệu số, đánh giá và lựa chọn thông tin.

– Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp:

Môn Tin học có sự phân hoá sâu. Tuỳ theo sở thích và dự định về nghề nghiệp trong tương lai, học sinh lựa chọn một trong hai định hướng: Tin học ứng dụng và Khoa học máy tính.

Định hướng Tin học ứng dụng đáp ứng nhu cầu sử dụng máy tính như một công cụ của công nghệ kĩ thuật số trong cuộc sống, học tập và làm việc, đem lại sự thích ứng và khả năng phát triển dịch vụ trong xã hội số.

Định hướng Khoa học máy tính đáp ứng mục đích bước đầu tìm hiểu nguyên lí hoạt động của hệ thống máy tính, phát triển tư duy máy tính, khả năng tìm tòi, khám phá các hệ thống tin học, phát triển ứng dụng trên hệ thống máy tính.

Bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi, học sinh có thể chọn một số chuyên đề học tập tuỳ theo sở thích, nhu cầu và định hướng nghề nghiệp. Những chuyên đề thuộc định hướng Tin học ứng dụng nhằm tăng cường thực hành ứng dụng, giúp học sinh thành thạo hơn trong sử dụng các phần mềm thiết yếu, làm ra sản phẩm số thiết thực cho học tập và cuộc sống. Những chuyên đề thuộc định hướng Khoa học máy tính nhằm giới thiệu lập trình điều khiển robot giáo dục, kĩ thuật thiết kế thuật toán, một số cấu trúc dữ liệu và một số nguyên tắc thiết kế mạng máy tính.

II. QUAN ĐIỂM XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

Chương trình môn Tin học cụ thể hoá các quan điểm của Chương trình tổng thể, chú trọng các yêu cầu sau đây:

1. Tính kế thừa và phát triển

a) Kế thừa chương trình môn Tin học hiện hành

Chương trình môn Tin học kế thừa và phát triển những ưu điểm cơ bản của chương trình hiện hành là tính hệ thống và tính khoa học, đồng thời tránh thiên về lí thuyết trong một số nội dung và sự trùng lặp giữa các cấp học, gây quá tải.

b) Khai thác chương trình môn Tin học phổ thông của các nước tiên tiến

Trong bối cảnh nhiều nước coi trọng phát triển chương trình giáo dục tin học nhằm đào tạo nguồn nhân lực cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Chương trình môn Tin học khai thác, chọn lọc vận dụng chương trình môn Tin học của các nước tiên tiến nhằm hội nhập, hướng tới trình độ quốc tế.

2. Tính khoa học, hiện đại và sư phạm

Chương trình môn Tin học chọn lọc các nội dung cơ bản, phổ thông và hiện đại của ba mạch kiến thức DL, ICT,CS, đồng thời quan tâm đúng mức đến nội dung về đạo đức, pháp luật, văn hoá và ảnh hưởng của tin học đến xã hội, bảo đảm nguyên lí “vừa dạy chữ vừa dạy người” và coi trọng tính nhân văn trong thời đại có sự kết nối cao của thế giới thực và thế giới số.

3. Tính thiết thực

a) Phục vụ định hướng nghề nghiệp

Trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có nhiều ngành nghề và việc làm mới xuất hiện đòi hỏi kiến thức, kĩ năng tin học chuyên sâu, Chương trình môn Tin học thể hiện khả năng kết nối và lan toả sâu rộng của tin học đến tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống, xác lập cho các đối tượng học sinh khác nhau một phổ rộng các ngành nghề chuyên sâu và các ngành nghề ứng dụng tin học.

b)Thực hiện giáo dục STEM

Định hướng giáo dục STEM đang được triển khai như một hướng đi quan trọng trong giáo dục và đào tạo tại nhiều nước trên thế giới. Với tư cách là công nghệ nền tảng, hội tụ đủ tất cả bốn yếu tố giáo dục STEM (Khoa học (S), Công nghệ (T), Kĩ thuật (E) và Toán học (M)), môn Tin học có vai trò trung tâm kết nối các môn học khác, đẩy mạnh giáo dục STEM, phát huy sáng tạo của học sinh nhằm tạo ra sản phẩm số có hàm lượng ICT cao. Chương trình môn Tin học khai thác ưu thế về tích hợp liên môn bằng cách yêu cầu học sinh làm ra sản phẩm số của cá nhân và của nhóm học tập để thu hẹp khoảng cách giữa giáo dục hàn lâm và thực tiễn.

4. Tính mở

a) Nội dung chương trình mở

b) Hình thức giáo dục đa dạng

III. MỤC TIÊU CHƯƠNG TRÌNH

1. Mục tiêu chung

Chương trình môn Tin học góp phần hình thành, phát triển những phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đã được xác định trong Chương trình tổng thể, đồng thời góp phần chủ yếu hình thành, phát triển năng lực tin học cho học sinh. Môn Tin học trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức tin học phổ thông gồm ba mạch kiến thức hoà quyện:

– Học vấn số hoá phổ thông nhằm giúp học sinh hoà nhập với xã hội hiện đại, sử dụng được các thiết bị số và phần mềm cơ bản thông dụng một cách có đạo đức, văn hoá và tuân thủ pháp luật.

– Công nghệ thông tin và truyền thông nhằm giúp học sinh sử dụng và áp dụng hệ thống máy tính giải quyết vấn đề thực tế một cách hiệu quả và sáng tạo.

– Khoa học máy tính nhằm giúp học sinh hiểu biết các nguyên tắc cơ bản và thực tiễn của tư duy máy tính, tạo cơ sở cho việc thiết kế và phát triển các hệ thống máy tính.

2. Mục tiêu cấp tiểu học

Chương trình môn Tin học ở cấp tiểu học giúp học sinh bước đầu làm quen với công nghệ kĩ thuật số, bắt đầu hình thành năng lực tin học và chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học môn Tin học ở cấp trung học cơ sở, cụ thể là:

– Bước đầu hình thành cho học sinh tư duy giải quyết vấn đề với sự trợ giúp của máy tính: Hình thành nhu cầu thu thập, sử dụng thông tin, ý tưởng điều khiển máy tính thông qua việc tạo chương trình đơn giản bằng ngôn ngữ lập trình trực quan.

– Giúp học sinh sử dụng phần mềm tạo ra được những sản phẩm số đơn giản như một văn bản ngắn, thiệp chúc mừng, đoạn hoạt hình vui,…

– Giúp học sinh bước đầu quen với công nghệ kĩ thuật số thông qua việc sử dụng máy tính để vui chơi, học tập, xem và tìm kiếm thông tin trên Internet; rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng cơ bản trong sử dụng máy tính; biết bảo vệ sức khoẻ khi sử dụng máy tính, bước đầu có ý thức phòng tránh những tác hại khi sử dụng Internet và ý thức tôn trọng bản quyền.

3. Mục tiêu cấp trung học cơ sở

Chương trình môn Tin học ở cấp trung học cơ sở giúp học sinh tiếp tục phát triển năng lực tin học đã hình thành ở cấp tiểu học và hoàn thiện năng lực đó ở mức cơ bản, cụ thể là:

– Giúp học sinh phát triển tư duy và khả năng giải quyết vấn đề; biết chọn dữ liệu và thông tin phù hợp, hữu ích; biết chia một vấn đề lớn thành những nhiệm vụ nhỏ hơn; bước đầu có tư duy mô hình hoá một bài toán qua việc hiểu và sử dụng khái niệm thuật toán và lập trình trực quan; biết sử dụng mẫu trong quá trình thiết kế và tạo ra các sản phẩm số; biết đánh giá kết quả sản phẩm số cũng như biết điều chỉnh, sửa lỗi các sản phẩm đó.

– Giúp học sinh có khả năng sử dụng các phương tiện, thiết bị và phần mềm; biết tổ chức lưu trữ, khai thác nguồn tài nguyên đa phương tiện; tạo ra và chia sẻ sản phẩm số đơn giản phục vụ học tập, cuộc sống; có ý thức và khả năng ứng dụng ICT phục vụ cá nhân và cộng đồng.

giao tiếp trên mạng; bước đầu nhận biết được một số ngành nghề chính thuộc lĩnh vực tin học.

4. Mục tiêu cấp trung học phổ thông

Chương trình môn Tin học ở cấp trung học phổ thông giúp học sinh củng cố và nâng cao năng lực tin học đã được hình thành, phát triển ở giai đoạn giáo dục cơ bản, đồng thời cung cấp cho học sinh tri thức mang tính định hướng nghề nghiệp thuộc lĩnh vực tin học hoặc ứng dụng tin học, cụ thể là:

– Giúp học sinh có những hiểu biết cơ bản về hệ thống máy tính, một số kĩ thuật thiết kế thuật toán, tổ chức dữ liệu và lập trình; củng cố và phát triển hơn nữa cho học sinh tư duy giải quyết vấn đề, khả năng đưa ra ý tưởng và chuyển giao nhiệm vụ cho máy tính thực hiện.

– Giúp học sinh có khả năng ứng dụng tin học, tạo ra sản phẩm số phục vụ cộng đồng và nâng cao hiệu quả công việc; có khả năng lựa chọn, sử dụng, kết nối các thiết bị số, dịch vụ mạng và truyền thông, phần mềm và các tài nguyên số khác.

– Giúp học sinh có khả năng hoà nhập và thích ứng được với sự phát triển của xã hội số, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học; tìm kiếm và trao đổi thông tin theo cách phù hợp, tuân thủ pháp luật, có đạo đức, ứng xử văn hoá và có trách nhiệm; có hiểu biết thêm một số ngành nghề thuộc lĩnh vực tin học, chủ động và tự tin trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai của bản thân.

IV. YÊU CẦU CẦN ĐẠT

1.Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung

Môn Tin học góp phần thực hiện các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định trong Chương trình tổng thể.

2. Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù

Học sinh hình thành, phát triển được năng lực tin học với năm thành phần năng lực sau đây:

– NLa: Sử dụng và quản lí các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông;

– NLb: Ứng xử phù hợp trong môi trường số;

– NLc: Giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông;

– NLd: Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học;

– NLe: Hợp tác trong môi trường số.

2.1. Ở cấp tiểu học

Học sinh sử dụng được máy tính hỗ trợ vui chơi, giải trí và học tập, thông qua đó biết được một số lợi ích mà thiết bị kĩ thuật số có thể đem lại cho con người, trước hết cho cá nhân học sinh. Đồng thời học sinh có được những khả năng ban đầu về tư duy và nền nếp thích ứng với việc sử dụng máy tính và thiết bị số thông minh, với yêu cầu cụ thể sau đây:

2.2. Ở cấp trung học cơ sở

Học sinh có được những kiến thức, kĩ năng cơ bản để hoà nhập, thích ứng với xã hội số; tạo được sản phẩm số phục vụ bản thân và cộng đồng; bước đầu có tư duy điều khiển các thiết bị số. Năng lực tin học đạt được ở cuối cấp trung học cơ sở góp phần chuẩn bị cho học sinh học tiếp giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, học trường nghề hoặc tham gia lao động với yêu cầu cụ thể sau đây:

2.3. Ở cấp trung học phổ thông

Chương trình môn Tin học ở cấp trung học phổ thông thể hiện sự phân hoá sâu hơn về định hướng nghề nghiệp. Do vậy, chương trình có các yêu cầu cần đạt chung về năng lực tin học bắt buộc đối với mọi học sinh và có các yêu cầu bổ sung riêng tương ứng với học sinh chọn định hướng Tin học ứng dụng hoặc Khoa học máy tính.

a)Yêu cầu chung

b) Yêu cầu bổ sung theo định hướng ICT và CS

– Kết nối được PC với các thiết bị số thông dụng

– Biết tổ chức lưu trữ, khai thác được dữ liệu phục vụ bài toán quản lí đơn giản trong thực tế.

– Sử dụng được một số chức năng cơ bản của phần mềm quản lí dự án.

– Biết bảo vệ dữ liệu, cài đặt hay gỡ bỏ được phần mềm trên máy tính và thiết bị di động khi cần thiết.

– Sử dụng được các phần mềm thiết kế đồ hoạ, chỉnh sửa ảnh và làm phim hoạt hình để tạo ra sản phẩm số phục vụ học tập và đáp ứng sở thích của cá nhân.

– Sử dụng thành thạo các phần mềm tin học văn phòng, tạo được sản phẩm số có chất lượng thông qua các dự án giải quyết vấn đề thực tế.

-Phân tích được dữ liệu với phần mềm bảng tính.

– Hiểu biết được nguyên lí hoạt động của hệ thống thông tin bao gồm máy tính và các thiết bị số khác.

– Hiểu được các phép toán nhị phân cơ bản và ứng dụng hệ nhị phân trong tin học.

– Trình bày được sơ lược việc thiết kế mạng.

– Hiểu và vận dụng được các phương pháp làm mịn dần, thiết kế mô đun trong lập trình.

– Xác định được cấu trúc dữ liệu thích hợp để biểu diễn thông tin, lựa chọn và xây dựng được thuật toán hiệu quả để giải quyết vấn đề; sử dụng được ngôn ngữ lập trình bậc cao, qua đó phát triển tư duy điều khiển và tự động hoá; tạo được những sản phẩm số thiết thực như chương trình điều khiển robot giáo dục.

– Biết được mục tiêu và một số thành tựu của Khoa học dữ liệu và Học máy.

– Biết được vai trò của phần mềm mô phỏng.

V. NỘI DUNG GIÁO DỤC 1. Nội dung khái quát

1.1. Nội dung cốt lõi

Chủ đề A. Máy tính và xã hội tri thức

Chủ đề B. Mạng máy tính và Internet

Chủ đề C. Tổ chức lưu trữ, tìm kiếm và trao đổi thông tin

Chủ đề D. Đạo đức, pháp luật và văn hoá trong môi trường số

Chủ đề E. Ứng dụng tin học

Chủ đề F. Giải quyết vấn đề với sự trợ giúp của máy tính

Chủ đề G. Hướng nghiệp với tin học

1.2. Chuyên đề học tập

a) Định hướng Tin học ứng dụng

b) Định hướng Khoa học máy tính

2. Nội dung cụ thể và yêu cầu cần đạt ở các lớp

a) Nội dung giáo dục và yêu cầu cần đạt ở cấp tiểu học

NỘI DUNG GIÁO DỤC TOÀN CẤP HỌC YÊU CẦU CẦN ĐẠT VÀ NỘI DUNG GIÁO DỤC Ở CÁC LỚP LỚP 3

LỚP 4

LỚP 5

b) Nội dung giáo dục và yêu cầu cần đạt ở cấp trung học cơ sở

NỘI DUNG GIÁO DỤC TOÀN CẤP HỌC

………………………………

Bạn đang đọc nội dung bài viết 3 Hiểu Lầm Phổ Biến Trong Giáo Dục Song Ngữ Ở Trẻ / 2023 trên website Techcombanktower.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!